CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính giám đốc đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Báo cáo kinh doanh quốc tế của Grant Thornton (IBR) là cuộc khảo sát thị trường hàng đầu thế giới, phỏng vấn khoảng 2.500 giám đốc điều hành cấp cao mỗi quý trong các công ty niêm yết và công ty tư nhân trên toàn thế giới.000 doanh nghiệp hàng đầu trong 36 nền kinh tế hàng năm. Dữ liệu trong báo cáo này được rút ra từ 5.526 cuộc phỏng vấn giữa tháng 7 và tháng 12 năm 2016 với các giám đốc điều hành, chủ tịch và các nhà hoạch định chính sách cao cấp từ tất cả các ngành trong các doanh nghiệp tầm trung trong 36 nền kinh tế.
15 cuộc phỏng vấn sâu đã được tiến hành với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp từ bên trong và bên ngoài Grant Thornton Theo báo cáo này thì Nga trở thành nước dẫn đầu về chỉ số nữ làm lãnh đạo, trong đó, vị trí lãnh đạo này có thể là tổng giám đốc, giám đốc tài chính, giám đốc điều phối, giám đốc tác nghiệp. Trong các doanh nghiệp ở Nga, phụ nữ chiếm giữ khoảng 47% vị trí lãnh đạo (2016), một năm trước đó, tỷ lệ nữ lãnh đạo ở Nga là khoảng 46% và năm 2014 là 40%.1: Những nước có tỷ lệ phụ nữ làm quản lý cấp cao cao nhất Nguồn: Báo cáo kinh doanh quốc tế của Grant Thornton 2016 Các chuyên gia của Grant Thorton cũng cho biết, từ năm 2014 đến năm 2015, trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ làm quản lý đã tăng từ 22% lên 24%, tỷ lệ này tiếp tục tăng 10 nhẹ và đến năm 2016 là 25%. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp không có phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo cấp cao cũng tăng lên. Vào năm 2016, đã có 34% các doanh nghiệp không có phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo cao cấp.
Các nước đang phát triển dẫn đầu về tính đa dạng, nhưng đáng ngạc nhiên là nhiều nền kinh tế lớn lại có tỷ lệ phụ nữ là quản lý cấp cao thấp hơn, điển hình là quốc gia Nhật Bản, Ác - hen - ti - na, Đức, Ấn Độ.2: Những nước có tỷ lệ phụ nữ làm quản lý cấp cao thấp nhất Nguồn: Báo cáo kinh doanh quốc tế của Grant Thornton 2016 Trong Báo cáo kinh doanh quốc tế của Grant Thorton năm 2016 cũng đưa ra tỷ lệ phụ nữ làm quản lý trong một số khu vực điển hình như: Đông Âu: 38% vị trí lãnh đạo cao cấp là phụ nữ, 9% doanh nghiệp không có phụ nữ trong vai trò là lãnh đạo cao cấp. Đông Âu đứng đầu bảng xếp hạng, với Nga dẫn đầu là nước duy nhất trong đó mỗi doanh nghiệp có một phụ nữ trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp. Tại Ba Lan, tỷ lệ này đã được cải thiện thêm 6% so với năm trước, và đến năm 2016 đã tăng đến 40%. Châu phi: 29% vị trí lãnh đạo cao cấp là phụ nữ, 18% doanh nghiệp không có phụ nữ trong vai trò là lãnh đạo cao cấp.
Botswana đã được cải thiện đáng kể về tỷ lệ phần trăm các vị trí lãnh đạo cao cấp được nắm giữ bởi phụ nữ - tăng thêm 8% so với năm 2015 và đến năm 2016 là 31% - và cũng giảm 6% số doanh nghiệp không có phụ nữ lãnh đạo cao cấp. Nigeria và Nam Phi đều có sự cải thiện, với tỷ lệ doanh nghiệp không có phụ nữ có vị trí lãnh đạo cao cấp giảm từ 15% xuống 9% ở Nigeria, và tỷ lệ nữ lãnh đạo tăng từ 23% lên 28% ở Nam Phi. 11 Các nước đang phát triển khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: 29% vị trí lãnh đạo cao cấp là phụ nữ, 26% doanh nghiệp không có phụ nữ trong vai trò lãnh đạo cao cấp. Trung Quốc vẫn duy trì mức trung bình toàn cầu, với vị trí trong 10 nền kinh tế hàng đầu trên thế giới, chiếm 31% số các vị trí lãnh đạo cao cấp của phụ nữ.
Tuy nhiên, Ấn Độ, mặc dù đã cải thiện được 1% và lên đến 17%, nhưng vẫn tiếp tục xếp hạng trong 10 nước có tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo cấp cao ít nhất. Liên minh châu Âu: 26% vị trí lãnh đạo cấp cao được tổ chức bởi phụ nữ, 36% doanh nghiệp không có phụ nữ trong vai trò lãnh đạo cao cấp. Sau một sự suy thoái nhẹ vào năm 2015, cả tỷ lệ phần trăm vị trí lãnh đạo cấp cao được giữ bởi phụ nữ và tỷ lệ doanh nghiệp không có phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo cấp cao đều đã hồi phục trên toàn khu vực. Pháp và Tây Ban Nha dẫn đầu về tỷ lệ phụ nữ có vai trò lãnh đạo cao cấp ở mức 31% và 27% tương ứng, với sự cải thiện đáng chú ý ở Ai Len - tăng 7% và hiện tại là 26%.
Mặc dù tăng trưởng 3% vào năm ngoái, Đức đi sau với tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo cao cấp là 19%. Vương quốc Anh đã thất bại trong việc lặp lại những tiến bộ trong những năm gần đây, với tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo rơi vào 19%, và tỷ lệ doanh nghiệp không có phụ nữ ở vị trí hàng đầu tăng lên 41%. Bắc Mỹ: 23% vị trí lãnh đạo cấp cao được tổ chức bởi phụ nữ, 31% doanh nghiệp không có phụ nữ trong vai trò lãnh đạo cao cấp. Canada có tỷ lệ số phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo cao cấp khá thấp, ở mức 23% - giảm 3% trong năm.
Hoa Kỳ không thấy có chuyển biến trong năm 2016, với tỷ lệ các vị trí lãnh đạo cao cấp được giữ bởi phụ nữ vẫn còn ở mức 23% và tỷ lệ phần trăm số doanh nghiệp không có phụ nữ giữ vị trí hàng đầu vẫn ở mức 31%. Sự đa dạng là chìa khóa thành công trong kinh doanh.Với sự kết hợp của nam giới và phụ nữ với tư cách là người quản lý, các doanh nghiệp sẽ được chuẩn bị tốt hơn cho các hoạt động của mình. Bên cạnh đó, một trong những mục tiêu quan trọng mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều đang cố gắng và mong muốn đạt được đó là bình đẳng giới. Costa và các cộng sự (2009) cho rằng xóa bỏ bất bình đẳng giới là “một mục tiêu chính đáng”.
Mặt khác, bình đẳng giới có liên quan mật thiết với phát triển kinh tế. Các nghiên cứu của Appiah và McMahon (2002), Klasen và Lamanma (2003) đã chỉ ra rằng bất bình đẳng giới trong giáo dục làm giảm tăng trưởng kinh tế. Khi tham gia vào thị trường lao động chính thức, những người phụ nữ sẽ tìm được những công việc có thu nhập cao hơn khi họ có trình độ đại học. Bên cạnh đó, trong các khu vực không chính thức, việc cải thiện giáo dục cho phụ nữ sẽ mang lại hiệu quả công việc cao hơn.
Bất bình đẳng giới trong sức khỏe cũng là một trong những nguyên 12 nhân gây trở ngại cho phát triển nguồn nhân lực, và từ đó làm giảm sự phát triển kinh tế xã hội. Ở nhiều lĩnh vực cạnh quan trọng như giáo dục, chăm sóc sức khỏe và việc làm, vấn đề bình đẳng giới đã được phân tích nhiều, còn trong lĩnh vực kinh doanh thì gần đây đã được người ta chú ý đến nhiều hơn. (2010) đã chỉ ra rằng số lượng doanh nhân nam cao hơn số lượng doanh nhân nữ một cách đáng kể. Tuy nhiên ngày nay, số lượng giám đốc doanh nghiệp là nữ ngày càng có xu hướng tăng lên rõ rệt.
Vậy một câu hỏi quan trọng đưa ra khi người phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh doanh với vai trò là người quản lý thì liệu có mang lại kết quả kinh doanh khác biệt so với nam giới khi họ là quản lý hay không. Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, ở nhiều quốc gia khác nhau, với những nền kinh tế khác nhau. Những nghiên cứu này đã phân tích và đánh giá sự khác nhau khi chủ doanh nghiệp là nữ giới với chủ doanh nghiệp là nam giới; về sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị hay Ban giám đốc tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như thế nào. Các nghiên cứu này hầu như đều đặt giả thiết về mối quan hệ tích cực giữa chúng.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đưa ra lại không có sự thống nhất và có những sự khác biệt. Một vài nghiên cứu chỉ ra sự kém hiệu quả của nữ doanh nhân, trong khi một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy sự khác biệt nào về giới tính của các doanh nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Những khác biệt này phụ thuộc một phần vào thước đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp được sử dụng và những nhân tố khác nhau đang được kiểm soát. Cụ thể, có thể chia ra làm ba nhóm như sau: - Nhóm thứ nhất: Nữ giám đốc có tác động tiêu cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Nhóm thứ hai: Nữ giám đốc có tác động không rõ ràng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Nhóm thứ ba: Nữ giám đốc có tác động tích cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Nhóm thứ nhất: Nữ giám đốc có ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Coleman (2007), Robert và Robb (2009), Waston (2002), Loscocco và Robison (1991) chỉ ra rằng những doanh nghiệp có giám đốc là nữ thường có doanh thu bán 13 hàng, tài sản và tạo được việc làm ít hơn so với các doanh nghiệp có giám đốc là nam. Cụ thể, Coleman (2007) đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới tính của giám đốc với doanh thu bán hàng và số tài sản của 2800 doanh nghiệp nhỏ (< 500 người) tại Mỹ vào năm 1998. Coleman thấy rằng các doanh nghiệp do nam giới làm giám đốc có tổng số doanh thu bán hàng và tài sản trung bình gấp 2 lần so với các doanh nghiệp có giám đốc là nữ, và có nhiều nhân viên hơn 50%. Loscocco và Robison (1991) đã tìm thấy các doanh nghiệp có giám đốc là nữ có doanh thu bán hàng thấp hơn trong việc so sánh các doanh nghiệp cùng ngành.
Kết luận của họ được rút ra bởi việc so sánh doanh thu bán hàng trung bình trong ngành công nghiệp phụ trợ chiếm ưu thế bởi nữ doanh nhân so với doanh thu bán hàng bởi những ngành chiếm ưu thế bởi nam doanh nhân.