Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ nông nghiệp, chuyên ngành Chăn nuôi (Mã số: 9.05) của nghiên cứu sinh Bùi Thị Kim Phụng, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Chế Minh Tùng tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2024), mang tên: “Ảnh hưởng của giới tính, thời điểm cho ăn sau nở và chế độ dinh dưỡng đầu đời đến khả năng sinh trưởng và đáp ứng miễn dịch ở gà thịt”. Công trình được thực hiện dựa trên dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm từ hai đề tài khoa học cấp cơ sở (Mã số: CS-CB16-CNTY-02 và CS-CB22-CNTY-01).

Trong phương thức chăn nuôi gia cầm truyền thống tại Việt Nam, gà thịt lông màu thường được nuôi nhốt chung trống mái và sử dụng chung một chế độ dinh dưỡng. Việc này dẫn đến hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp, tốc độ tăng khối lượng không tối ưu và làm giảm độ đồng đều của đàn xuất chuồng. Bên cạnh đó, sau khi gà con nở, các cơ quan tiêu hóa và hệ miễn dịch vẫn tiếp tục phân hóa mạnh trong những tuần đầu đời. Mặc dù gà con hấp thu dinh dưỡng từ túi lòng đỏ, nguồn năng lượng và kháng thể mẹ truyền này không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển thể chất nhanh chóng. Trong thực tế chăn nuôi, thời gian vận chuyển kéo dài và tập quán của người nuôi khiến gà con thường bị trì hoãn tiếp cận thức ăn từ 24 đến 48 giờ sau khi nở, hoặc chậm thêm 4 đến 8 giờ sau khi đưa về chuồng trại. Việc cho ăn muộn dẫn đến suy giảm khối lượng cơ thể, teo nhung mao ruột non, chậm hoàn thiện hệ vi sinh vật có lợi và suy giảm chức năng miễn dịch. Mặt khác, việc áp dụng thức ăn khởi đầu chuyên biệt (pre-starter) trong giai đoạn đầu đời cho gà lông màu vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

Mục tiêu chung của luận án là xác định hiệu quả của kỹ thuật nuôi tách riêng giới tính so với nuôi chung trống mái, xác định thời điểm cho gà ăn thích hợp sau khi nở hoặc sau khi nhập trại, đồng thời đánh giá tác động của thức ăn khởi đầu trong giai đoạn đầu đời đến sức khỏe, năng suất sinh trưởng, hình thái đường ruột và tỷ lệ các cơ quan nội quan của gà thịt từ 0 đến 56 ngày tuổi.

Mục tiêu cụ thể của luận án gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của giới tính và thời điểm cho ăn sau thả nuôi lên năng suất sinh trưởng, chất lượng thân thịt xẻ, hình thái nhung mao ruột và hiệu giá kháng thể kháng vi rút Gumboro huyết thanh ở gà thịt từ 1 đến 56 ngày tuổi.
  2. Đánh giá tác động của thời điểm cho ăn sau nở và thức ăn khởi đầu (thức ăn thương mại và thức ăn Vistart) đến năng suất sinh trưởng, tỷ lệ các nội quan, hình thái nhung mao ruột, số lượng vi khuẩn Escherichia coli và Lactobacillus spp. trong phân, cùng hiệu giá kháng thể kháng vi rút Gumboro huyết thanh ở gà thịt từ 0 đến 56 ngày tuổi.
  3. Đánh giá ảnh hưởng của thời điểm cho ăn sau nở và thức ăn khởi đầu đến tỷ lệ các nội quan và hình thái nhung mao tá tràng ở gà thịt giai đoạn từ 0 đến 14 ngày tuổi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gà thịt lông màu giống Lương Phượng thương phẩm từ 1 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi (được cung cấp bởi Công ty Chăn nuôi Bình Minh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
  • Phạm vi không gian: Trại Nghiên cứu Ứng dụng, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ ngày 01/12/2016 đến ngày 30/11/2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế về ba trục nội dung chính: dinh dưỡng theo giới tính, ảnh hưởng của thời điểm tiếp cận thức ăn sau nở, và thành phần dinh dưỡng giai đoạn đầu đời của gia cầm.

Về ảnh hưởng của giới tính, tác giả tổng hợp các công trình của North và Bell (1990), Castilho và cộng sự (2013), Shalev và Pasternak (1998), Summers và Leeson (1984), Đào Văn Khanh (2004), Chen và cộng sự (2006), Khawaja và cộng sự (2013), Madilindi và cộng sự (2018), Siaga và cộng sự (2017), Sam và cộng sự (2010), Nguyễn Hoàng Thịnh và cộng sự (2016, 2020), Nguyễn Bá Mùi và cộng sự (2015), và Ashley và cộng sự (2023). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng gà trống có tốc độ trao đổi chất, nhu cầu protein thô và khả năng sinh trưởng cao hơn gà mái (khối lượng cơ thể lúc 6 đến 12 tuần tuổi của gà trống cao hơn gà mái từ 12,4% đến 29,4%), tỷ lệ đùi và thân thịt xẻ lớn hơn, trong khi gà mái có xu hướng tích lũy mỡ bụng và có tỷ lệ thịt ức tương đối cao hơn ở một số dòng lai.

Về sự phát triển phôi, túi lòng đỏ và thời điểm cho ăn sau nở, luận án dẫn chứng các công trình kinh điển và hiện đại: Chamblee và cộng sự (1992), Fan và cộng sự (1997), Yadgary và cộng sự (2010), Noy và Sklan (1997, 1998a, 2001), Esteban và cộng sự (1990), Noy và cộng sự (1996, 2001), Uni và Ferket (2004), Lilja (1983), Nitsan và cộng sự (1991), Uni và cộng sự (1999), Maiorka và cộng sự (2003b), Yamauchi và cộng sự (1996), Casteel và cộng sự (1994), Nir và Levanon (1993), Noy và Uni (2010), El-Husseiny và cộng sự (2008), Bar và cộng sự (2005), Alhotan (2011), Abed và cộng sự (2011), Ali và cộng sự (2012), Corduk và cộng sự (2013), Liu và cộng sự (2020), Lingens và cộng sự (2021), Li và cộng sự (2022). Các nghiên cứu chỉ rõ túi lòng đỏ được hấp thu qua hai con đường (nhập bào qua biểu mô túi lòng đỏ vào máu và nhu động ngược vào tá tràng/không tràng). Việc trì hoãn thức ăn từ 24 đến 72 giờ làm teo nhung mao niêm mạc ruột non, giảm tiết enzym tiêu hóa tuyến tụy (trypsin, amylase, lipase), giảm khối lượng các cơ quan nội quan, giảm chức năng miễn dịch của túi Fabricius (Glick, 1956; Moran, 1990; Jin và cộng sự, 1998; Madsen và cộng sự, 2004; Bhanja và cộng sự, 2010; Panda và cộng sự, 2015; Song và cộng sự, 2021).

Về hệ vi sinh vật và nguyên liệu thức ăn khởi đầu, tác giả phân tích các nghiên cứu của Apajalahti (2004), Wei và cộng sự (2013), Stanley và cộng sự (2012), Lu và cộng sự (2003), Rehman và cộng sự (2007), Waite và Taylor (2015), Kumar và cộng sự (2018), Videnska và cộng sự (2013), Kogut và Oakley (2016), Oakley và cộng sự (2014), Knarreborg và cộng sự (2002), Yadav và Jha (2019), DeKetelaere và cộng sự (2004), Schmidt và cộng sự (1992), Cook (2004), ElDeek và cộng sự (2005), Sparks (2006), Vandepopuliere và cộng sự (1997), Davis và Reeves (2002), Ladan và cộng sự (2012), Esmailzadeh và cộng sự (2016), Hoàng Nhật Quang (2018), Bùi Thị Huyền Thương (2019), Võ Lê Thuần (2019), Nguyễn Thị Mỹ Nhân và cộng sự (2020).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu chuyên sâu về nuôi tách giới tính, thời điểm cho ăn sớm và thức ăn khởi đầu trước đây đều thực hiện trên các giống gà công nghiệp lông trắng siêu thịt (Cobb, Ross). Tại Việt Nam, dữ liệu thực nghiệm toàn diện trên các giống gà thịt lông màu (cụ thể là gà Lương Phượng) về sự kết hợp giữa giới tính, thời gian nhịn ăn sau nở/sau nhập trại và việc sử dụng thức ăn khởi đầu giàu dưỡng chất dễ tiêu (như Vistart chứa gạo tấm, đậu nành, bột trứng) đối với vi thể hình thái học nhung mao ruột non, sự biến động quần thể vi sinh vật phân và đáp ứng kháng thể vắc-xin Gumboro vẫn còn thiếu hụt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng các cơ sở lý thuyết sinh lý học dinh dưỡng và miễn dịch học gia cầm:

  • Lý thuyết về dinh dưỡng sớm (Early Nutrition / In ovo & Post-hatch Feeding) của Uni và Ferket (2004).
  • Cơ chế sử dụng dưỡng chất và kháng thể mẹ truyền (IgY) từ túi lòng đỏ qua biểu mô noãn hoàng và chuyển vị ngược vào lòng ruột non (Noy và Sklan, 1998a; Esteban và cộng sự, 1990).
  • Sinh lý phát triển hình thái nhung mao ruột non (chiều cao nhung mao - villus height, chiều sâu mào ruột - crypt depth, chiều rộng nhung mao - villus width, tỷ lệ cao/sâu) và động học bài tiết enzym tiêu hóa (Lilja, 1983; Uni và cộng sự, 1999).
  • Lý thuyết về sự hình thành và cạnh tranh của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa (Lactobacillus spp. có lợi và E. coli gây bệnh) theo Apajalahti (2004) và Yadav & Jha (2019).
  • Đáp ứng miễn dịch dịch thể thông qua hiệu giá kháng thể kháng vi rút Gumboro (Infectious Bursal Disease) trong huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp định lượng thực nghiệm gồm 4 thí nghiệm độc lập:

Thí nghiệm 1: Đánh giá phương thức nuôi theo giới tính đến 56 ngày tuổi. Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) 1 yếu tố với 3 nghiệm thức: (1) Nuôi mái riêng, (2) Nuôi trống riêng, (3) Nuôi chung trống mái (tỷ lệ 1:1). Tổng số 192 gà Lương Phượng 1 ngày tuổi, 8 ô lồng/nghiệm thức, 8 con/ô lồng (tổng cộng 24 ô lồng).

Thí nghiệm 2: Đánh giá tương tác giữa giới tính và thời điểm cho ăn sau thả nuôi đến 56 ngày tuổi. Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố (2 x 3 factorial arrangement): Yếu tố 1 gồm 2 giới tính (trống, mái); Yếu tố 2 gồm 3 thời điểm cho ăn sau khi về trại: 0 giờ (0H - đối chứng), 4 giờ (4H) và 8 giờ (8H). Tổng số 480 gà, 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 8 ô lồng, 10 con/ô lồng (tổng cộng 48 ô lồng). Lấy mẫu mổ khảo sát ruột ở các mốc 21, 42 và 56 ngày tuổi.

Thí nghiệm 3: Đánh giá thời điểm cho ăn sau nở và thức ăn khởi đầu từ 0 đến 56 ngày tuổi. Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố (2 x 2 factorial arrangement): Yếu tố thời điểm cho ăn sau nở (0H và 30H); Yếu tố thức ăn khởi đầu (thức ăn Vistart và thức ăn thương mại - TATM) áp dụng từ 0 đến 7 ngày tuổi, sau đó từ 8 đến 56 ngày tuổi tất cả gà ăn chung TATM. Tổng số 480 gà, 4 nghiệm thức, 10 ô lồng/nghiệm thức, 12 con/ô lồng.

Thí nghiệm 4: Đánh giá ảnh hưởng của thời điểm cho ăn sau nở và thức ăn khởi đầu đến nội quan và mô học tá tràng giai đoạn từ 0 đến 14 ngày tuổi. Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố (2 x 2 factorial arrangement: thời điểm cho ăn 0H, 30H và loại thức ăn Vistart, TATM từ 0 đến 7 ngày tuổi, từ 8 đến 14 ngày tuổi ăn TATM). Tổng số 240 gà, 4 nghiệm thức, 60 con/nghiệm thức.

Thí nghiệm Tổng số gà (con) Thiết kế thí nghiệm Yếu tố khảo sát Số nghiệm thức Số lặp lại / quy mô Thời gian theo dõi
Thí nghiệm 1 192 CRD 1 yếu tố Giới tính (Trống, Mái, Nuôi chung) 3 8 ô lồng/NT (8 con/ô) 1 - 56 ngày tuổi
Thí nghiệm 2 480 CRD 2 yếu tố ($2 \times 3$) Giới tính $\times$ TĐCA sau nhập trại (0H, 4H, 8H) 6 8 ô lồng/NT (10 con/ô) 1 - 56 ngày tuổi
Thí nghiệm 3 480 CRD 2 yếu tố ($2 \times 2$) TĐCA sau nở (0H, 30H) $\times$ Thức ăn khởi đầu (Vistart, TATM) 4 10 ô lồng/NT (12 con/ô) 0 - 56 ngày tuổi
Thí nghiệm 4 240 CRD 2 yếu tố ($2 \times 2$) TĐCA sau nở (0H, 30H) $\times$ Thức ăn khởi đầu (Vistart, TATM) 4 60 con/NT 0 - 14 ngày tuổi

Chỉ tiêu theo dõi và kỹ thuật thu thập dữ liệu

  • Năng suất sinh trưởng: Khối lượng sống (KLS), tăng khối lượng (TKL), tiêu thụ thức ăn hàng ngày (TTTAHN), hệ số chuyển hóa thức ăn (HSCHTA / FCR), tỷ lệ nuôi sống (TLNS), tỷ lệ đồng đều đàn (TLĐĐ).
  • Khảo sát thân thịt và nội quan: Tỷ lệ thân thịt (TLTT), tỷ lệ cơ đùi, tỷ lệ cơ ức; tỷ lệ tim, gan, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, tụy tạng, túi lòng đỏ, ruột non và ruột già.
  • Hình thái học nhung mao ruột: Thu mẫu các đoạn tá tràng (duodenum), không tràng (jejunum), hồi tràng (ileum); làm tiêu bản mô học nhuộm Hematoxylin - Eosin, đo chiều cao nhung mao, chiều sâu mào ruột, chiều rộng nhung mao và tỷ lệ chiều cao/chiều sâu dưới kính hiển vi quang học có thước đo vi mô chuyên dụng.
  • Đánh giá miễn dịch: Thu mẫu huyết thanh gà định kỳ sau tiêm phòng vắc-xin, xác định hiệu giá kháng thể (HGKT) kháng vi rút Gumboro bằng bộ kit ELISA thương mại.
  • Vi sinh vật đường ruột: Thu mẫu phân tươi, định lượng mật độ vi khuẩn Escherichia coli và vi khuẩn Lactobacillus spp. bằng phương pháp nuôi cấy đếm khuẩn lạc (CFU/g phân) trên môi trường chọn lọc.
  • Xử lý số liệu: Dữ liệu được xử lý thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) tổng quát theo mô hình tuyến tính trên phần mềm chuyên dụng; so sánh sai số chuẩn trung bình (SEM), kiểm định ý nghĩa thống kê ở các mức xác suất $P < 0,05$, $P < 0,01$ và $P < 0,001$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày hệ thống cơ sở lý luận và dữ liệu thực chứng liên quan đến đề tài:

  • Đặc điểm giống gà lông màu: Gà Lương Phượng có xuất xứ từ Trung Quốc (nhập vào Việt Nam năm 1997), sinh trưởng nhanh (thời gian nuôi thịt 2 - 2,5 tháng đạt 1,5 - 1,7 kg/con, tiêu tốn thức ăn 2,2 - 2,4 kg/kg tăng khối lượng), chất lượng thịt săn chắc, thích nghi cao với khí hậu nhiệt đới ẩm. Tác giả đối sánh năng suất gà Lương Phượng với gà Ri, Mía, Đông Tảo, Minh Dư Cao Khanh, Tam Hoàng và Sasso.
Giống gà Thời gian nuôi (tháng) Khối lượng cơ thể (kg/con) Tiêu tốn thức ăn (kg TA/kg tăng khối lượng) Nguồn trích dẫn
Gà Ri, gà Mèo 5,0 - 7,0 1,2 - 1,6 6,0 - 8,0 FAO (2020)
Gà Mía 5,0 - 7,0 1,6 - 2,0 5,0 - 7,0 FAO (2020)
Gà Hồ, Đông Tảo 6,0 - 7,0 2,3 - 2,8 6,0 - 8,0 FAO (2020)
Minh Dư Cao Khanh 3,0 - 3,5 2,2 - 2,4 2,7 - 2,9 FAO (2020)
Gà Lương Phượng 2,0 - 2,5 1,5 - 1,7 2,2 - 2,4 FAO (2020)
Gà Tam Hoàng 2,0 - 2,5 1,8 - 2,2 2,2 - 2,5 FAO (2020)
Gà Sasso 3,0 - 3,5 2,1 - 2,3 3,1 - 3,5 FAO (2020)
  • Khối lượng và tỷ lệ thân thịt theo giới tính: Tổng hợp các công trình trên giống gà nội (Nguyễn Hoàng Thịnh và cộng sự, 2016, 2020; Nguyễn Bá Mùi và cộng sự, 2015) xác nhận gà trống luôn có khối lượng sống và tỷ lệ cơ đùi cao hơn gà mái (Gà Ri Lạc Sơn 15 tuần: con trống đạt 1510,3 g, tỷ lệ đùi 20,11%; con mái đạt 1148,7 g, tỷ lệ đùi 20,17%).
  • Đặc tính nguyên liệu thức ăn khởi đầu: Phân tích thành phần hóa học hạt cốc và bột trứng. Bột trứng chứa 22,8% protein thô, 14,4% béo thô, 22,6% canxi, 0,4% phospho, 1,7% lysine, 0,7% methionine, cung cấp kháng thể IgY tự nhiên và men lysozyme ức chế vi khuẩn gây hại (E. coli, Salmonella). Gạo tấm có hàm lượng tinh bột dễ tiêu cao hơn bắp, năng lượng trao đổi ME đạt 3.503,5 kcal/kg, giàu threonine (0,30%) và tryptophan (0,38%).
Chỉ tiêu dinh dưỡng Bột trứng (Trương Thị Huyền Phương, 2005) Bột lông vũ (Chế Minh Tùng & Võ Thị Kiều Oanh, 2019) Bột cá (Bùi Đức Lũng & Lê Hồng Mận, 1995)
Protein thô (%) 22,8 85,0 55,0 - 56,0
Béo thô (%) 14,4 1,96 6,00 - 6,70
Canxi (%) 22,6 0,34 5,00
Phospho (%) 0,40 0,06 2,50
Lysine (%) 1,70 0,93 4,50 - 5,20
Methionine (%) 0,70 0,35 1,60 - 1,80

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm:

  • Địa điểm và điều kiện chuồng trại: Trại Nghiên cứu Ứng dụng, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Gà được nuôi trong hệ thống lồng sàn đảm bảo tiêu chuẩn nhiệt độ, thông thoáng và ánh sáng theo lứa tuổi.
  • Khẩu phần thức ăn: Đáp ứng tiêu chuẩn dinh dưỡng NRC (1994). Thức ăn khởi đầu Vistart sử dụng các nguyên liệu tinh chế dễ tiêu hóa gồm tấm gạo, khô dầu đậu nành, bột trứng, axit amin tổng hợp và premix khoáng - vitamin.
  • Thiết kế 4 thí nghiệm: Chi tiết hóa sơ đồ phân lô, bố trí nghiệm thức hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố và hai yếu tố, kỹ thuật phân biệt trống mái bằng lỗ huyệt lúc 1 ngày tuổi, phương pháp tiêm phòng vắc-xin Gumboro định kỳ, quy trình mổ khám lấy mẫu cơ quan, quy trình làm tiêu bản mô học ruột non và xét nghiệm vi sinh/huyết thanh học.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng cốt lõi của 4 thí nghiệm:

Kết quả Thí nghiệm 1 (Nuôi theo giới tính từ 1 đến 56 ngày tuổi):

  • Nhóm gà trống nuôi riêng có khối lượng cơ thể (KLS), lượng tiêu thụ thức ăn hàng ngày (TTTAHN) và mức tăng khối lượng (TKL) cao hơn có ý nghĩa thống kê ($P < 0,001$) so với nhóm gà mái nuôi riêng và nhóm nuôi chung trống mái.
  • Tỷ lệ đùi ở nhóm gà trống đạt mức cao hơn nhóm gà mái và nhóm nuôi chung ($P < 0,01$).
  • Nuôi riêng biệt trống và mái đã cải thiện đáng kể tỷ lệ đồng đều (TLĐĐ) của đàn gà ($P < 0,05$), đồng thời có xu hướng nâng cao tỷ lệ nuôi sống (TLNS) của gà so với nuôi chung trống mái ($P = 0,067$).

Kết quả Thí nghiệm 2 (Giới tính và thời điểm cho ăn sau thả nuôi 0H, 4H, 8H):

  • Năng suất sinh trưởng: Gà trống duy trì tốc độ sinh trưởng cao hơn gà mái trong suốt 56 ngày nuôi ($P < 0,05$).
  • Hình thái nhung mao ruột non: Tại thời điểm 56 ngày tuổi, gà trống có chiều cao nhung mao ở đoạn không tràng và đoạn hồi tràng dài hơn có ý nghĩa ($P < 0,05$) so với gà mái.
  • Ảnh hưởng của việc hoãn cho ăn: Việc trì hoãn cho ăn đến 8 giờ sau khi đưa về trại (8H) làm giảm chiều cao nhung mao đoạn hồi tràng so với việc cho ăn ngay lúc về trại (0H) ($P < 0,05$).
  • Miễn dịch và độ đồng đều: Yếu tố giới tính, thời điểm cho ăn sau thả nuôi (0H, 4H, 8H) và tương tác giữa hai yếu tố không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ đồng đều của đàn ở 56 ngày tuổi ($P > 0,05$).

Kết quả Thí nghiệm 3 (Thời điểm cho ăn sau nở 0H, 30H và thức ăn khởi đầu Vistart vs TATM):

  • Giai đoạn khởi đầu (0 - 7 ngày tuổi): Nhóm gà bị nhịn ăn 30 giờ sau nở (30H) có năng suất sinh trưởng, chiều cao nhung mao tá tràng và chiều cao nhung mao không tràng thấp hơn có ý nghĩa ($P < 0,05$) so với nhóm được cho ăn ngay sau nở (0H).
  • Hiệu quả của thức ăn Vistart (0 - 7 ngày tuổi): Gà sử dụng thức ăn khởi đầu Vistart đạt tốc độ sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) vượt trội hơn so với gà ăn thức ăn thương mại ($P < 0,01$). Khẩu phần Vistart làm tăng chiều rộng nhung mao tá tràng, không tràng và làm tăng mật độ vi khuẩn có lợi Lactobacillus spp. trong phân ($P < 0,05$).
  • Đáp ứng kháng thể: Gà ăn thức ăn Vistart có hiệu giá kháng thể kháng Gumboro huyết thanh cao hơn gà ăn TATM ($P < 0,05$). Đồng thời, gà được cho ăn sớm (0H sau nở) duy trì hiệu giá kháng thể Gumboro tại thời điểm 49 ngày tuổi cao hơn có ý nghĩa so với gà cho ăn muộn (30H) ($P < 0,05$).

Kết quả Thí nghiệm 4 (Khảo sát nội quan và nhung mao tá tràng giai đoạn 0 - 14 ngày tuổi):

  • Khối lượng nội quan: Gà cho ăn muộn lúc 30 giờ sau nở có tỷ lệ gan lúc 7 ngày tuổi và tỷ lệ tụy tạng lúc 14 ngày tuổi cao hơn nhóm cho ăn lúc 0 giờ ($P < 0,05$). Gà sử dụng thức ăn Vistart có tỷ lệ tim lúc 7 ngày tuổi cao hơn so với gà ăn TATM ($P < 0,05$).
  • Kích thước nhung mao tá tràng: Tại mốc 14 ngày tuổi, chiều cao nhung mao tá tràng của nhóm ăn thức ăn khởi đầu Vistart đạt $1267\ \mu\text{m}$, dài hơn có ý nghĩa thống kê ($P = 0,001$) so với nhóm ăn thức ăn thương mại thông thường ($1029\ \mu\text{m}$).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện xác lập mối quan hệ định lượng giữa giới tính, thời gian tiếp cận thức ăn sớm sau nở và công thức dinh dưỡng khởi đầu đối với sự phát triển hình thái học vi thể ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng), hệ vi sinh vật đường ruột (E. coli, Lactobacillus spp.) và động học đáp ứng miễn dịch dịch thể (HGKT kháng Gumboro) ở giống gà thịt lông màu Lương Phượng.
  2. Chứng minh trên phương diện sinh lý học rằng việc trì hoãn cho gà ăn 30 giờ sau nở gây tổn thương cấu trúc nhung mao ruột non và suy giảm đáp ứng miễn dịch kéo dài đến giai đoạn xuất chuồng (49 - 56 ngày tuổi).
  3. Khẳng định vai trò sinh học của khẩu phần thức ăn khởi đầu dễ tiêu hóa (giàu tinh bột gạo tấm, protein khô dầu đậu nành xử lý nhiệt và bột trứng chứa IgY) trong 7 ngày đầu đời đối với việc thúc đẩy nhung mao ruột phát triển vượt trội (chiều cao nhung mao tá tràng đạt $1267\ \mu\text{m}$ ở 14 ngày tuổi) và kích thích gia tăng mật độ vi khuẩn có lợi Lactobacillus spp.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  1. Kỹ thuật nuôi tách riêng giới tính: Khuyến cáo người chăn nuôi gà Lương Phượng áp dụng phương pháp phân biệt giới tính ở 1 ngày tuổi và nuôi riêng trống mái. Kỹ thuật này giúp phát huy tối đa tiềm năng tăng trọng của con trống, nâng cao tỷ lệ thịt đùi, tăng độ đồng đều của đàn gà xuất chuồng ($P < 0,05$) và cải thiện tỷ lệ sống ($P = 0,067$).
  2. Kỹ thuật cho ăn sớm ngay sau nở: Xóa bỏ tập quán truyền thống để gà con nhịn đói từ 4 đến 8 giờ sau khi nhập trại hoặc kéo dài 24 đến 30 giờ sau nở. Cần cho gà con tiếp cận thức ăn và nước uống ngay khi nở hoặc ngay thời điểm gà vừa được vận chuyển về đến chuồng nuôi (thời điểm 0H).
  3. Ứng dụng thức ăn khởi đầu chuyên biệt: Đề xuất đưa thức ăn khởi đầu (như công thức Vistart) vào quy trình nuôi dưỡng bắt buộc trong 7 ngày đầu đời của gà thịt lông màu, nhằm cải thiện sức khỏe đường ruột, nâng cao hiệu quả chuyển hóa thức ăn và tăng cường sức đề kháng bệnh Gumboro.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu được tác giả công bố trong văn bản:

  • Hạn chế: Các thí nghiệm được thực hiện tập trung trên giống gà Lương Phượng tại điều kiện Trại Nghiên cứu Ứng dụng thuộc Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, với hai mức thời gian cho ăn sau nở (0 giờ và 30 giờ) và 3 mức sau thả nuôi (0, 4, 8 giờ). Đề tài chưa khảo sát các khoảng thời gian nhịn ăn chi tiết hơn (như 12, 18, 24 giờ) hoặc đánh giá trên nhiều giống gà thịt bản địa khác của Việt Nam (gà Ri, Mía, Tàu Vàng).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát mở rộng hiệu quả của thức ăn khởi đầu Vistart và kỹ thuật cho ăn sớm trên các giống gà bản địa thả vườn khác ở quy mô chăn nuôi trang trại công nghiệp lớn.
    • Nghiên cứu sâu hơn về sự biểu hiện của các gen miễn dịch đường ruột (chIL-2, IgA niêm mạc) và đáp ứng miễn dịch đối với các loại vắc-xin virus quan trọng khác (Newcastle, Viêm phế quản truyền nhiễm - IB, Cúm gia cầm).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Giá trị tham khảo nằm ở phương pháp thiết kế thí nghiệm đa yếu tố ($2 \times 3$, $2 \times 2$), kỹ thuật cắt lát mô học đo đạc cấu trúc vi thể nhung mao ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng), phương pháp đếm khuẩn lạc phân đoạn vi sinh vật phân và phương pháp chuẩn độ kháng thể ELISA huyết thanh.
  • Chuyên gia dinh dưỡng và doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia cầm: Phần phân tích thành phần dưỡng chất của thức ăn khởi đầu Vistart, bột trứng, gạo tấm và khô dầu đậu nành tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3 là cơ sở khoa học tin cậy để nghiên cứu phát triển các dòng sản phẩm thức ăn pre-starter thương mại cho gia cầm giai đoạn 0 - 7 ngày tuổi.
  • Kỹ sư chăn nuôi, cán bộ khuyến nông và chủ trang trại gia cầm: Tham khảo trực tiếp quy trình kỹ thuật nuôi tách riêng trống mái và quy trình cho ăn sớm ngay thời điểm 0 giờ để nâng cao độ đồng đều đàn, giảm FCR và hạn chế hao hụt đầu con.

Câu hỏi thường gặp

1. Kỹ thuật nuôi tách riêng trống mái ở gà thịt Lương Phượng mang lại những hiệu quả năng suất nào so với nuôi chung?
Trả lời: Kết quả Thí nghiệm 1 chứng minh gà trống nuôi riêng có khối lượng sống, mức tiêu thụ thức ăn hàng ngày và tăng khối lượng cao hơn vượt trội so với gà mái nuôi riêng và nhóm nuôi chung ($P < 0,001$). Tỷ lệ thịt đùi của gà trống cao hơn gà mái và nhóm nuôi chung ($P < 0,01$). Ngoài ra, nuôi riêng trống mái làm tăng tỷ lệ đồng đều của đàn gà lúc xuất chuồng ($P < 0,05$) và có xu hướng cải thiện tỷ lệ nuôi sống ($P = 0,067$).

2. Việc trì hoãn cho gà ăn 30 giờ sau nở gây ra những tác động tiêu cực gì đối với đường ruột và sinh trưởng của gà?
Trả lời: Theo kết quả Thí nghiệm 3 và Thí nghiệm 4, trong giai đoạn 0 - 7 ngày tuổi, gà bị cho ăn trễ 30 giờ có năng suất sinh trưởng, chiều cao nhung mao tá tràng và chiều cao nhung mao không tràng thấp hơn có ý nghĩa so với gà cho ăn lúc 0 giờ ($P < 0,05$). Cho ăn muộn 30 giờ làm tăng tỷ lệ gan ở 7 ngày tuổi, tăng tỷ lệ tụy tạng ở 14 ngày tuổi ($P < 0,05$) và làm suy giảm hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh của gà ở thời điểm 49 ngày tuổi ($P < 0,05$).

3. Thức ăn khởi đầu Vistart mang lại những cải thiện cụ thể nào cho gà Lương Phượng trong 7 ngày đầu đời?
Trả lời: Gà được ăn Vistart từ 0 đến 7 ngày tuổi có tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) tốt hơn gà ăn thức ăn thương mại ($P < 0,01$). Khẩu phần Vistart làm tăng chiều rộng nhung mao tá tràng và không tràng, tăng số lượng vi khuẩn có lợi Lactobacillus spp. trong phân ($P < 0,05$), nâng cao hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh ($P < 0,05$) và làm tăng chiều cao nhung mao tá tràng ở 14 ngày tuổi đạt $1267\ \mu\text{m}$ so với $1029\ \mu\text{m}$ ở nhóm ăn TATM ($P = 0,001$).

4. Việc cho gà ăn sau khi đưa về trại ở các mốc 0 giờ, 4 giờ và 8 giờ (Thí nghiệm 2) ảnh hưởng như thế nào đến nhung mao ruột và kháng thể Gumboro lúc 56 ngày tuổi?
Trả lời: Cho gà ăn lúc 8 giờ sau khi về trại làm giảm chiều cao nhung mao đoạn hồi tràng so với cho ăn ngay lúc 0 giờ ($P < 0,05$). Gà trống có chiều cao nhung mao không tràng và hồi tràng dài hơn gà mái ở 56 ngày tuổi ($P < 0,05$). Tuy nhiên, các mốc thời gian cho ăn này, giới tính và sự tương tác giữa chúng không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hiệu giá kháng thể Gumboro huyết thanh, tỷ lệ nuôi sống và độ đồng đều của đàn ở 56 ngày tuổi ($P > 0,05$).

5. Thành phần dinh dưỡng và giá trị sinh học của bột trứng dùng trong khẩu phần khởi đầu được luận án ghi nhận ra sao?
Trả lời: Theo số liệu tổng hợp trong luận án, bột trứng chứa 22,8% protein thô, 14,4% béo thô, 22,6% canxi, 0,4% phospho, 1,7% lysine và 0,7% methionine. Bột trứng cung cấp nguồn kháng thể mẹ truyền (IgY) tự nhiên, enzyme lysozyme và các dưỡng chất hoạt tính sinh học cao, giúp ức chế vi khuẩn gây hại (E. coli), bảo vệ niêm mạc ruột và kích thích hệ vi sinh vật hữu ích phát triển.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Kim Phụng đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu khoa học đặt ra thông qua 4 thí nghiệm thực chứng chặt chẽ trên giống gà thịt lông màu Lương Phượng. Nghiên cứu đã chứng minh nuôi tách riêng giới tính giúp nâng cao năng suất sinh trưởng, tỷ lệ thịt đùi và độ đồng đều của đàn gà xuất chuồng. Đồng thời, công trình khẳng định việc cho gà ăn sớm ngay sau khi nở (0 giờ) kết hợp sử dụng thức ăn khởi đầu chuyên biệt Vistart trong 7 ngày đầu đời giúp kích thích nhung mao ruột non phát triển hoàn thiện, gia tăng mật độ vi khuẩn có lợi Lactobacillus spp. trong phân, tối ưu hóa hệ số chuyển hóa thức ăn và tăng cường đáp ứng kháng thể kháng bệnh Gumboro. Kết quả luận án cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật thiết thực cho ngành chăn nuôi gia cầm lông màu tại Việt Nam.