CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm việc làm thêm Khi chúng ta bắt đầu bước vào hành trình tìm việc cho bản thân, thì ai cũng vậy, cũng sẽ bắt gặp nhiều hình thức việc làm khác nhau và việc để mình hiểu hết được định nghĩa của các hình thức việc làm đó không phải là một điều dễ dàng. Đối với sinh viên “việc làm thêm” có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hưởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi các kỹ năng mềm phục vụ cho quá trình sống và làm việc cũng như tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống.
Và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trở thành một xu thế là vì đối với sinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay, kiến thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy cũng như khả năng làm việc của họ sau tốt nghiệp. Như vậy, “việc làm thêm” trong nghiên cứu này là một định nghĩa mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc ổn định khác, đối với sinh viên thì công việc chính thức là tham gia học tập, công việc không chính thức là đi làm thêm, đi thực tập hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác. (Speed Demons, 2022) Thật vậy, việc làm thêm đối với sinh viên là sự tham gia làm việc tại một cơ quan, tổ chức hay một địa điểm nào đó ngay cả khi vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường với mục đích tăng thêm thu nhập cho bản thân và tích lũy thêm cho mình những kinh nghiệm thực tế để có một hành trang vững chắc cho nghề nghiệp tương lai của mình. Khái niệm làm thêm ra đời khá sớm, cùng với xu thế phát triển chung của xã hội, khái niệm này ngày càng trở nên phổ biến.
“Thực chất việc làm thêm là một 11 định nghĩa nhằm mô tả hay diễn đạt một công việc mang tính chất không chính thức, không thường xuyên, không cố định bên cạnh một công việc chính thức, là việc làm mà người lao động tận dụng thời gian để tăng thêm thu nhập” (Nguyễn Thị Huyền Trang, 2016). Tóm lại, ta có thể hiểu như sau: “Việc làm thêm đối với sinh viên có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay cả khi vẫn đang học ở trường tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hưởng đến học tập với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế của sống”. Khái niệm nghề nghiệp Theo Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê (2000), nghề nghiệp là một từ ghép được kết hợp giữa 2 từ đơn là nghề và nghiệp. Theo đó, “nghề” được hiểu là một công việc được làm cố định trong một thời gian.
Nghề thường là một danh xưng được xã hội công nhận, có thời gian làm việc lâu dài, tạo ra được thu nhập ổn định và mang lại lợi ích cho xã hội. Ví dụ: Công việc của bạn là dạy học còn nghề nghiệp của bạn sẽ là giáo viên. Nghiệp được hiểu theo nghĩa Hán Nôm tức là một dạng thể của “ngành” hay hiểu đơn giản thì nghiệp chính là một lĩnh vực nào đó. Cũng chính vì thế mà chúng ta thường gọi các từ như: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp,.
Theo thời gian thì từ nghiệp cũng dẫn trở thành từ nói về công việc nhiều hơn đó là “nghề nghiệp”, “sự nghiệp”, “cơ nghiệp”,. Vậy kết hợp ý nghĩa của 2 từ nghề và nghiệp ta có thể hiểu “nghề nghiệp” chính là một công việc được xã hội công nhận, có thời gian làm việc lâu dài, tạo thu nhập ổn định và là mục đích lựa chọn công việc của nhiều người, ví dụ: giáo viên, bác sĩ, kỹ sư,… 1. Khái niệm Trường Đại học Căn cứ theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Giáo dục Đại học năm 2012 quy định về đại học với nội dung cụ thể: “Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực 12 chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học”. Trường đại học là cơ sở đào tạo nhiều ngành, còn đại học là cơ sở đào tạo nhiều lĩnh vực.
Theo khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học năm 2018 thì ngành có phạm vi hẹp hơn lĩnh vực, lĩnh vực bao gồm nhiều ngành. Khái niệm sinh viên ngành Quản trị nhân lực Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh là : “Student” có nghĩa là những người làm việc và học tập tích cực, tìm hiểu và khai thác tri thức khoa học (Nguyễn Thị Thu Thảo, 2016). Sinh viên chủ yếu là những người đăng ký vào trường hoặc cơ sở giáo dục Đại học, Cao đẳng, … tham gia các lớp học trong khóa học để đạt được mức độ thành thạo môn học theo hướng dẫn của người hướng dẫn, và dành thời gian bên ngoài lớp để thực hiện bất kỳ hoạt động nào mà giảng viên chỉ định là cần thiết cho việc chuẩn bị lớp học hoặc để gửi bằng chứng về sự tiến bộ đối với sự thành thạo đó. Theo nghĩa rộng hơn, sinh viên là bất kỳ ai đăng ký chính mình để được tham gia các khóa học trí tuệ chuyên sâu với một số chủ đề cần thiết để làm chủ nó như là một phần của một số vấn đề ngoài thực tế trong đó việc làm chủ các kiến thức như vậy đóng vai trò cơ bản hoặc quyết định.
Sinh viên ngành Quản trị nhân lực là những người học trong lĩnh vực Quản trị nhân lực (Human Resource Management - HRM). Ngành này tập trung vào quản lý và phát triển nguồn lực con người trong tổ chức hoặc doanh nghiệp. Sinh viên trong ngành này được đào tạo về các kỹ năng quản lý nhân sự, quản trị tài nguyên con người, xây dựng và duy trì môi trường làm việc hiệu quả. Đặc điểm của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 1.
Đặc điểm chung của sinh viên ngành Quản trị nhân lực Sinh viên ngành Quản trị nhân lực là những người đang tham gia học tập tại các trường có đào tạo về lĩnh vực nhân sự. Đặc điểm của sinh viên ngành Quản trị nhân lực gồm: Tầm nhìn: Họ hiểu về sự quan trọng của nguồn nhân lực. Sinh viên Quản trị nhân lực nhận thức rõ ràng nguồn nhân lực là tài sản quan trọng và đóng góp vào sự phát triển và thành công của tổ chức. Họ nhìn thấy nguồn nhân lực không chỉ là một nguồn lực lao động, mà còn là nguồn lực có giá trị và tiềm năng phát triển.
Sinh viên Quản trị nhân lực có tầm nhìn về vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong tổ chức, sự phát triển cá nhân và tạo môi trường làm việc tích cực, cũng như khả năng thích ứng với sự thay đổi và phát triển trong lĩnh vực Quản trị nhân lực Đam mê với con người: Sinh viên Quản trị nhân lực thường có sự đam mê với con người và quan tâm đến việc làm với nhân viên. Họ tin rằng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để đạt được sự thành công của một tổ chức cũng như góp phần vào việc thúc thúc đẩy năng suất làm việc của toàn đơn vị. Năng động: Sinh viên Quản trị nhân lực thường có tính năng động và sẵn sàng thích ứng với sự thay đổi. Họ không ngại thử thách, không ngại dấn thân, không ngại thay đổi để trải nghiệm và thử các phương pháp mới nhằm nâng cao kỹ năng bản thân, cũng như tìm kiếm các giải giáp để đẩy mạnh việc phát triển nhân sự trong tổ chức.
Tính sáng tạo: Sinh viên Quản trị nhân lực có sự sáng tạo trong việc tìm kiếm giải pháp mới, áp dụng công nghệ, thiết kế chính sách và chương trình sáng tạo, khám phá các xu hướng mới và xây dựng môi trường khuyến khích sáng tạo. Sự sáng tạo của họ giúp tạo ra các giải pháp tiên phong và nâng cao hiệu suất quản lý nhân sự trong tổ chức. Sự chủ động: Sinh viên ngành Quản trị nhân lực thường có tính chủ động tìm kiếm cơ hội học tập và phát triển, tìm kiếm cơ hội thực tập và thực hành…Họ thường 14 tìm kiếm các cơ hội để tham gia các hoạt động đóng góp cho cộng đồng và tạo ra giá trị đối với xã hội. Những định hướng và yêu cầu nghề nghiệp của sinh viên ngành Quản trị nhân lực Định hướng nghề nghiệp: Chuyên viên tuyển dụng: Tìm kiếm, thu hút và lựa chọn ứng viên phù hợp cho các tổ chức.
Chuyên viên nhân sự: Đánh giá nhu cầu đào tạo, thực hiện các thủ tục đánh giá hiệu suất làm việc, thiết lập các chính sách bồi thường và phúc lợi của tổ chức Chuyên gia đào tạo và phát triển nhân lực: Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, phát triển kỹ năng và nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên. Chuyên gia quản lý quan hệ lao động: Xây dựng môi trường làm việc tích cực, quản lý quan hệ lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến lao động. Chuyên gia tư vấn xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đào tạo kỹ năng cho nhân sự của các doanh nghiệp: Lập kế hoạch để nâng cao năng lực nhân sự của doanh nghiệp, xây dựng và tư vấn các đề án về việc cải thiện văn hóa doanh nghiệp. Yêu cầu nghề nghiệp: Kiến thức chuyên môn: Sinh viên ngành quản trị nhân lực cần nắm vững kiến thức về quản trị nhân lực bao gồm tuyển dụng, đào tạo, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, hoạch định chính sách nhân sự, đền bù và phúc lợi, pháp luật lao động và các khía cạnh liên quan.
Kỹ năng quản lý: Họ cần có kỹ năng quản lý thời gian, quản lý quan hệ lao động, tổ chức công việc, lập kế hoạch, lãnh đạo và giải quyết vấn đề. 15 Tư duy phân tích và sáng tạo: Để giải quyết các thách thức trong quản trị nhân lực, sinh viên cần có tư duy phân tích sắc bén và khả năng tìm kiếm giải pháp sáng tạo.