MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta là tất yếu, khách quan và là vấn đề chiến lược trong dựng nước và giữ nước. Trong giai đoạn hiện nay, kết hợp kinh tế với quốc phòng là cần thiết để gia tăng sức mạnh của quân đội, sức mạnh tổng lực của quốc gia, góp phần tạo nên sự độc lập, tự chủ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, giảm bớt sự lệ thuộc vào việc mua sắm từ nước ngoài, qua đó từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Những năm qua, quân đội đã sử dụng hợp lý tiềm năng của các đơn vị quân đội để sản xuất và xây dựng kinh tế.
Các doanh nghiệp kinh tế thuộc Bộ Quốc phòng vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế như các doanh nghiệp khác, vừa gìn giữ năng lực quốc phòng; góp phần tạo thế bố trí chiến lược và tạo nguồn thu cho quốc phòng. Khi chiến tranh xảy ra, đây là lực lượng đầu tiên có thể chuyển ngay sang chiến đấu (Trần Trung Tín, 2017). Hiện nay, các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng đang thể hiện vai trò của mình, tích cực phát triển sản xuất và cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội, đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng sâu, vùng xa; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng đều tăng mạnh.
Các doanh nghiệp quân đội, các đơn vị quân đội tham gia phát triển kinh tế đã tạo ra 7-8% GDP cho đất nước; nộp ngân sách từ 27-30% so với các doanh nghiệp nhà nước nộp (mặc dù vốn được giao chỉ chiếm 7% so với các doanh nghiệp nhà nước); hiệu quả so với khối doanh nghiệp nhà nước (hệ số lợi nhuận/vốn chủ sở hữu đạt 20-25%). Hằng năm tạo việc làm cho gần 300.000 lao động của nền kinh tế, chiếm khoảng 15% tổng số lao động của khối doanh nghiệp nhà nước 1. Cùng với chủ trương cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước nói chung, Bộ Quốc phòng đang quyết liệt triển khai cơ cấu lại các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, để làm cho doanh nghiệp quân đội mạnh lên, hoạt động hiệu quả. Trong thời gian tới, Bộ Quốc phòng sẽ đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp quân đội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước; là một bộ phận thuộc nội dung sắp xếp, tổ chức lại lực lượng quân đội, tạo ra được những doanh nghiệp lớn, thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước; định hướng rõ chiến lược trong các lĩnh vực, ngành nghề mà quân đội có thế mạnh như dịch vụ cảng biển, viễn thông, đóng tàu, 1 Đề án Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng an ninh trong tình hình mới.
2 xây dựng, bay dịch vụ. sản xuất kinh doanh hiệu quả, đủ sức hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sẵn sàng chuyển trạng thái khi có tình huống. Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, với điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, trước sức ép của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng buộc phải nâng cao hiệu quả hoạt động. Cũng như các doanh nghiệp kinh tế dân sự, doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng muốn hướng tới sự thành công đòi hỏi phải có những nhà quản lý giỏi và sáng tạo.
Những nhà quản lý, trong đó đội cũ cán bộ quản lý cấp trung được coi là một cấu phần quan trọng cho sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Cách thức mà các nhà quản lý tương tác với cấp dưới có thể tăng cường hoặc giảm thiểu đáng kể các kết quả quan trọng như sự hài lòng nhân viên, cam kết gắn bó với tổ chức, năng suất, hiệu suất và tỷ lệ thôi việc cũng như những năng lượng cảm xúc tích cực của nhân viên đối với công việc. Hơn nữa, nhân viên có nhiều khả năng vượt lên trên và vượt quá yêu cầu công việc của họ, nỗ lực hết mình để đạt được thành công khi họ tin vào các mục tiêu và sứ mệnh được các nhà quản lý truyền đạt cũng như khi họ cảm thấy rằng những gì đang làm là quan trọng. Bởi vậy, phong cách lãnh đạo được đặc trưng bởi các hành vi có ý nghĩa hỗ trợ, truyền cảm hứng và mang mọi người lại gần nhau là lợi thế và có giá trị đối với các tổ chức.
Đặc điểm của lãnh đạo trong quân đội là tính kỷ luật cao, đối với thực hiện nhiệm vụ gắn với quốc phòng được ưu tiên thực hiện. Tuy nhiên để doanh nghiệp hoạt động phát triển trong cơ chế thị trường thì doanh nghiệp đó cũng vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc quản trị của doanh nghiệp dân sự. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ các cấp trong doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng ngoài năng lực quản lý điều hành sản xuất kinh doanh chung đòi hỏi phải đáp ứng năng lực chỉ huy, quản lý điều hành gắn với nhiệm vụ bảo đảm Quốc phòng an ninh. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng của mình, các cán bộ quản lý cấp trung trong các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng phải phải xác định được những tố chất lãnh đạo cần thiết, những hành vi/ phong cách lãnh đạo phù hợp trong quá trình phát triển lãnh đạo của họ trong tương lai, đồng thời dẫn dắt cấp dưới thực hiện công việc hiệu quả, cũng như đáp ứng được các năng lực yêu cầu của Thủ trưởng/ lãnh đạo cấp trên.
Chính vì vậy, nghiên cứu làm rõ tố chất và phong cách lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung và ảnh hưởng đến sự gắn kết công việc của cấp dưới trong các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tố chất và phong cách lãnh đạo cán bộ quản lý cấp trung đến sự gắn kết công việc của cấp dưới trong các doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng” để làm luận án tiến sĩ của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về tố chất lãnh đạo Trong rất nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã cố gắng hiểu lý do đưa đến thành công của một nhà lãnh đạo và một trong những cách tiếp cận nghiên cứu đó là tập trung vào những phẩm chất cá nhân người lãnh đạo.
Những phẩm chất hay đặc điểm đặc trưng là những nét tính cách riêng biệt của người lãnh đạo, ví như sự thông minh, sự chân thành, tự tin và thậm chí cả tướng mạo của nhà lãnh đạo. Phương thức tiếp cận của nghiên cứu này được biết tới như phương thức tiếp cận “vĩ nhân”. Khởi nguồn của lý thuyết này bắt nguồn từ ý tưởng một số người được sinh ra vốn có sẵn những đặc trưng khiến họ trở thành lãnh đạo hay nói cách khác lãnh đạo có những yếu tố bẩm sinh. Các nhà nghiên cứu theo tiếp cận này tập trung sự quan tâm vào người lãnh đạo và các đặc trưng cơ bản của cá nhân người lãnh đạo như hình dáng bên ngoài, nhân cách, phẩm chất, năng lực đặc biệt … Các đặc trưng phẩm chất đó thường gắn với các nhân vật lịch sử cụ thể và được coi là nguyên nhân chính cho sự hấp dẫn, lôi cuốn của người lãnh đạo đối với những người đi theo.
Đồng thời các năng lực đặc biệt đó được coi là nền tảng cho sự thành công của người lãnh đạo. Aristotle đã xác định hai loại đức tính; phẩm hạnh trí tuệ và phẩm hạnh đạo đức (Cahn & Vitrano, 2008). Aristotle mô tả phẩm hạnh trí tuệ là một quá trình được phát triển thông qua giáo dục, trong khi phẩm hạnh đạo đức là "kết quả của thói quen". "không phải tự nhiên có, cũng không trái với tự nhiên mà là các đức tính nảy sinh trong chúng ta, ta đón nhận chúng một cách nguyên thủy và dần trở nên hoàn hảo theo thói quen" (Cahn & Vitrano, 2008, trang 23).
Theo dòng lý luận này, hai khái niệm mạnh mẽ xuất hiện: thứ nhất, mỗi cá nhân có những tố chất, đặc điểm riêng để thay đổi cách họ suy nghĩ và hành động (Seligman, 1999), và thứ hai, những đặc điểm của phẩm hạnh tốt đều có thể được giáo dục và tiếp thu. Do đó, tác động cá nhân và nguyên lý của thuyết nghiên cứu xã hội cũng là những đặc điểm quan trọng của quan niệm này (Bandura, 1977). Cách tiếp cận này củng cố lập luận cho rằng tố chất lãnh đạo của một con người có thể dễ rèn dũa, thành thói quen, hoặc là tiềm ẩn (bên trong) hoặc là biểu hiện ra ngoài (bởi chính bản thân hoặc được người khác cảm nhận). Như vậy, sự phát triển của tố chất có thể được mô tả hoàn thiện nhất là sự nuôi dưỡng các yếu tố đạo đức trong bản chất con người.
Aristotle đề xuất mười ba đức tính cấu thành/kiến tạo nên niềm hạnh phúc (eudaimonia) "được dịch theo nhiều cách khác nhau, có thể là hạnh phúc, thỏa mãn hoặc hưng thịnh" (Fowers, 2008, p. Những trạng thái này bao gồm lòng can đảm, sự ôn 4 hòa, sự tự do, sự tráng lệ, niềm kiêu hãnh, sự tốt bụng, sự thân thiện, sự đáng tin cậy, sự công tâm, sự xấu hổ, sự công bằng, danh dự và sự chân thành (Chun, 2005). Các học giả và nhà nghiên cứu đã tìm cách tạo ra các loại hình, cách phân loại hoặc danh mục các đặc điểm, tố chất, và công bố một số bản tóm tắt kỹ lưỡng về vấn đề này. Trên thực tế, còn có công trình đưa ra cả một từ điển tổng quan đầy đủ để định nghĩa và trích xuất các đặc điểm, tố chất (Cawley, Martin, & Johnson, 2000).
Peterson & Seligman (2004) tóm tắt sự phát triển và xác định các tố chất cá nhân kể từ triết lý Aristoteles, Platonic và Socratic, và những nỗ lực của họ đã đem đến một bước tiến lớn cho khung lý thuyết toàn diện mô tả chi tiết 24 đặc điểm/ tố chất cá nhân mà họ cho là có mặt ở khắp mọi nơi và không thể giảm bớt được. Nhờ đó, cách phân loại dựa trên lý thuyết toàn diện này tạo tiền đề cho việc ứng dụng mô hình lý thuyết của họ vào thu thập dữ liệu thực nghiệm và kiểm tra mô hình.