phần mở đầu, phần còn lại của nghiên cứu được cấu chức như sau: chương một tập trung vào việc xem xét các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn liên quan về tác động của phong cách lãnh đạo chuyền đổi đến sự hài lòng của nhân viên. Chương hai tập trung vào thiết kế nghiên cứu, phương. pháp thu thập dữ liệu, mô hình nghiên cứu vả xây dựng các thang đo trong mô hình nghiên cứu. Chương ba phân tích các kết quả của mô hình nghiên cứu gồm kiểm định độ tin cậy các thang đo trong mô hình nghiên cứu, phân tích nhân tô EEA, mô hình hồi quy tác động của phong cách lãnh đạo chuyên đổi đến sự hài lòng của nhân viên và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Cuối cùng, chương bốn trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, và đưa ra các khuyến nghị trong việc tăng sự hải lòng của nhân viên văn phòng trên địa bản Thành phố Đà Nẵng dựa trên phong cách của nhà lãnh đạo. CO SO LY THUYET VA TONG QUAN TAI LIEU NGHIEN CUU 1. Định nghĩa Lãnh đạo là một chủ đề đã được thảo luận trong nhiều nghiên cứu học thuật trong nhiều năm và đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Một số định nghĩa về lãnh đạo có thê dựa trên cách tiếp cận về đặc điểm, hành vi, khả năng dự phòng và các cách tiếp cận hiện đại.
Fry (2003) đã chỉ ra rằng lãnh đạo có nghĩa là sử dụng chiến lược để đưa ra những động lực đầy cảm. hứng và nâng cao tiểm năng phát triển và tăng trưởng của nhân viên. Northouse (2010) mô tả lãnh đạo là một quá trình, theo đó một cá nhân ảnh hưởng đến một nhóm người để đạt được mục tiêu chung. Lussier & Achua (2001) và Yukl (2010) đã định nghĩa lãnh đạo lả quá trình tương tác mà người lãnh đạo sẽ sử dụng để tác động đến những người cấp dưới.
Thông qua quá trình nảy, người cấp dưới sẽ hiểu và thống nhất về những gì cần phải làm và cách hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Cùng với đó, những nghiên cứu này cũng cung cấp những hiểu biết quan trọng về lãnh đạo. Trong lãnh đạo, một trong những yếu tố quyết định khả năng lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng xảy. ra trong quá trình tương tác giữa người lãnh đạo và người đi theo (nhân viên).
Nó liên quan đến khả năng ảnh hưởng đến niềm tin, thái độ và hành vi của người khác trong bối cảnh công việc hoặc tổ chức. Không có ảnh hưởng thì không thể trở thành người lãnh đạo. Hơn nữa, lãnh đạo hoạt động trong một nhóm người cùng tham gia vào một mục tiêu hoặc mục đích chung. Lãnh đạo cũng bao gồm việc đạt được các mục tiêu nảy.
Phong cách lãnh đạo Northouse (2010) định nghĩa phong cách lãnh đạo là một phương thức mà ở đó một cá nhân ảnh hưởng đến một nhóm các cá nhân để đạt được mục tiêu chung. Hemphill & Coons (1957) cho rằng phong cách lãnh đạo là hành vi mà một cá nhân nào đó chỉ đạo các hoạt động của một nhóm để thực hiện mục tiêu chung. Một cách chung nhất, phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động. đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo với yêu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý.
Phong cách lãnh đạo phụ thuộc nhiều nghề nghiệp, lĩnh vực cũng như môi trường hoạt động. Điều quan trọng trong phong cách của người lãnh đạo là phải xây dựng dựa trên bản chất, sự nhận thức và đạo đức của từng người, phù hợp chung với những chuẩn mực của xã hội, tạo động lực, truyền cảm hứng cho nhân viên nhằm thúc đây nhân viên thực hiện công việc theo mục tiêu chung của tô chức. Các nhà nghiên cứu trước đây đã phát triển nhiều lý thuyết khác nhau để tiếp cận và phân loại các phong cách lãnh đạo. e_ Tiếp cận theo đặc điểm cá nhân Lý thuyết lãnh đạo theo quan điểm cá nhân đề cập đến các tố chất của các nhà lãnh đạo vĩ đại, cho rằng khả năng lãnh đạo được giải thích bởi những.
phẩm chất bên trong mà một người sinh ra (Bernard, 1926). Học thuyết này phát biểu rằng các cá nhân đó mang những tố chất, đặc điểm xã hội khác biệt so với những người khác và chính điều đó khiến họ trở thành một nhà lãnh đạo tài giỏi. Các nhà khoa học cho rằng nếu có thể xác định được những đặc điểm khác biệt đó, các cá nhân có thể nhanh chóng được đánh giá và đưa vào các vị trí lãnh đạo. Vì thế, các nhà nghiên cứu cần phải nhận dạng ra được các đặc điểm định hình đó của nhà lãnh đạo thành công (Bass, 1990).
Nghiên cứu 10 này dựa trên ý tưởng rằng các nhà lãnh đạo được sinh ra chứ không phải được tạo ra, và chia khóa thành công chỉ đơn giản là xác định những người sinh ra để trở thành những nhà lãnh đạo vĩ đ: Mặc dù nhiều nghiên cứu đã được thực hiện đề xác định các đặc điểm, nhưng không có câu trả lời rõ rằng nào được tìm thấy về những đặc điểm nào. liên quan đến khả năng lãnh đạo tuyệt vời. Một điểm yếu của lý thuyết này là bỏ qua các yếu tố tình huồng và môi trường - những yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với mức độ hiệu quả của nhà lãnh đạo (Horner,1997). Ngoài ra, quan điểm này cũng chỉ tập trung nhắn mạnh tố chất lãnh đạo cơ bản là bẩm sinh mà bỏ qua các yếu tố khác như đảo tạo, kinh nghiệm.(Robbins, 996) © __ Tiếp cận theo hành vi Đối với cách tiếp cận theo hành vi, Bass (1990) đưa ra quan điểm rằng hành vi của nha lãnh đạo là gợi ý để khơi gợi hành vi của cấp dưới và sẽ quyết định mức độ hoàn thành công việc được giao của nhân viên.
Mô hình lý thuyết X và lý thuyết Y được đề xuất bởi McGregor nhằm mục đích chỉ ra sự khác biệt của hành vi lãnh đạo. Cụ thể, giả định của Lý thuyết X là nhân viên không thích công việc và sẽ tìm cách tránh né nếu có cơ hội và hành vi quản lý bao gồm ép buộc nhân viên. Đối với Lý thuyết Y, giả định của lý thuyết này cho rằng nhân viên xem công việc như kinh nghiệm tích cực khi được tạo điều kiện thuận lợi và hành vi quản lý bao gồm ủng hộ tích cực, khuyến khích và khen thưởng. Một nghiên cứu khác cũng theo hướng tiếp cận này được đưa ra bởi các nhà lãnh đạo của Đại học Michigan (Hoa Kỳ).
Trong nghiên cứu này, các tác giả tập trung vào hành vi của các nhà lãnh đạo và cách đối xử của họ với nhân viên. Nghiên cứu đã chỉ ra hai yếu tố là khởi tạo cấu trúc (lãnh đạo hướng sản xuất) và quan tâm đến cấu trúc (lãnh đạo hướng nhân viên). Mô hình lãnh đạo. 11 theo hành vi đã góp phan quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về lãnh đạo bên cạnh việc tập trung nghiên cứu đặc điểm cá nhân của họ.
Trái ngược với đặc điểm cá nhân, những hành vi lãnh đạo hiệu quả có thể đạt được thông qua việc huấn luyện và đảo tạo. Do đó, nếu có kế hoạch huấn luyện rõ rằng và phù hợp, chúng ta có thể đào tạo ra được nhiều nhà lãnh đạo tài ba (Robbins, 1996). Tuy nhiên, đôi khi hành vi của nhà lãnh đạo thích hợp trong một vài tình huống cụ thể nhưng có không thật sự phù hợp trong những tình huống khác. Helliegel và cộng sự (2004) cho rằng cách tiếp cận theo hành vi không thé tim ra được được phong cách lãnh đạo phù hợp cho mọi tình huống trong thực tế.
© Tiép cận theo tình huống Lý thuyết tiếp cận theo tình huống được phát biểu bởi Blanchard, Zigarmi và Nelson (1993), cho rằng lãnh đạo hiệu quả là khi nhà lãnh đạo nhận thấy được khả năng của cấp dưới trong từng tỉnh huống cụ thể và tìm ra những hành vi lãnh đạo phủ hợp với những tình huồng đó. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng tồn tại một số hạn chế. Yukl (2002) chỉ ra rằng cách tiếp cận này mặc dù có thể giải thích được một số lý do của phong cách lãnh đạo hiệu quá nhưng lại không đưa ra được nhận định kết luận một cách tông quát. «_ Tiếp cận toàn diện: Mô hình lãnh đạo tiếp cận toàn diện được nghiên cứu và phát triển bởi Bass và Avolio (1994, 1997).
Lý thuyết này đưa ra được phạm vi rộng các dạng thức hành vi lãnh đạo từ mức tương tác thấp cho đến cao là lãnh đạo tự do (úy thác), lãnh đạo giao dịch (chuyển tác) và lãnh đạo chuyển đổi (chuyển dạng). Những phong cách lãnh đạo này có ảnh hướng trực tiếp đến các yếu tố 12 đầu ra kết quả hoạt động của các cá nhân nói riêng và của tổ chức nói chung (Bass, 1990a; Yukl va Van Fleet, 1992). + Phong cách lãnh đạo tự do (hay còn gọi là phong cách lãnh đạo ủy thác): Đây là một phong cách lãnh đạo thụ động, không tích cực; lãnh đạo hay vắng mặt khi cần đến, phó thác toàn bộ trách nhiệm cho nhân viên trì hoãn trong việc đưa ra các quyết định. Phong cách lãnh đạo này được đặc trưng bởi sự thất bại hoàn toàn hoặc chung chung trong việc chịu trách nhiệm quản lý (Bass, 1999).
Điều này có nghĩa rằng lãnh đạo tự do có lúc được xem là không lãnh đạo. + Phong cách lãnh đạo giao dịch (hay còn gọi là phong cách lãnh đạo. chuyển tác): Phong cách lãnh đạo này dựa trên quyền lực quan liêu và tính hợp pháp trong tổ chức, khiến cho người khác phục tùng bằng việc khen thưởng. Nó nhắn mạnh các tiêu chuẩn công việc, sự phân công và các mục tiêu theo định hướng nhiệm vụ.
Nó tập trung vào việc hoàn thành nhiệm vụ và sự tuân thủ của nhân viên và dựa vào sự khen thưởng và trừng phạt của tổ chức để ảnh hưởng đến hiệu suất của nhân viên (Burns, 1979). Đây là phong cách lãnh đạo không thực hiện thay đổi, chỉ thuần túy chấp nhận hiện tại. Lãnh đạo giao địch tạo nên mối quan hệ trao đổi giữa người lãnh đạo và nhân viên cấp dưới theo cách lãnh đạo đạt mục tiêu, chỉ rõ yêu cầu với cấp dưới; nhân viên nhận được lương bổng, sự ghi nhận vì đã thực hiện những mong đợi của lãnh đạo.