phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ đƣợc trình bày thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hƣởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu ảnh hƣởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu Luan van 4 6. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Theo quan điểm của Amadi và Amadi (2014), giá cổ phiếu đƣợc xác định trên thị trƣờng tài chính bởi nhà đầu tƣ và các thành phần tham gia trên thị trƣờng – những ngƣời dựa vào những thông tin trong BCTC để đánh giá giá trị và rủi ro của dòng tiền kỳ vọng của các cổ đông. Nhà quản lý cung cấp BCTC; các nhà đầu tƣ sử dụng thông tin để xác định giá trị của công ty, và các cổ đông sử dụng giá trị của công ty để xác định thù lao cho việc quản lý. Đây là động lực của việc quản trị lợi nhuận [10].
Trƣớc đó, trong nghiên cứu của Raoli (2012) về quản trị lợi nhuận và sự lệch lạc thị trƣờng (Market Misvaluation) đã chỉ ra rằng, khi các nhà quản lý thấy đƣợc giá trị thị trƣờng của công ty đi lên họ có động cơ để thao túng thu nhập tăng lên để duy trì sự tăng về giá trị thị trƣờng [25]. Quản trị lợi nhuận là một biện pháp đƣợc thực thi bởi hầu hết công ty để tác động đến nhà đầu tƣ và đem đến cho nhà quản lý kết quả sinh lời mong muốn. Điều này là do ảnh hƣởng của công ty đến hành vi của nhà đầu tƣ và thị trƣờng, bằng cách tăng khoảng cách giữa TSSL cổ phiếu thực sự và mức sinh lợi mà nhà đầu tƣ có thể đạt đƣợc trong trƣờng hợp thông tin bị thao túng không đƣợc công bố. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra giá cổ phiếu và TSSL trên cổ phiếu là một trong những động cơ để nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận.
Các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA), tuy nhiên biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA) là khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ mới chính là thƣớc đo phù hợp để đánh giá các nhà quản lý doanh nghiệp có điều chỉnh lợi nhuận hay không. Trong mô hình nghiên cứu về ảnh hƣởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu đo lƣờng thông qua biến DA, các biến quy mô công ty và tỷ số giá trị thị trƣờng và giá trị sổ sách cũng thƣờng đƣợc đƣa vào mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu của Oduma (2015), đƣa ra mô hình ảnh hƣởng của nhân tố quản trị lợi nhuận đo lƣờng thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh, quy mô doanh nghiệp và tỷ số giá trị thị trƣờng và giá trị sổ sách của công ty (Market- to-book value) đến TSSL trên cổ phiếu của công ty niêm yết. Tác giả nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận bằng mô hình Modiffied Jone (1991) và chỉ ra rằng hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hƣởng cùng chiều và đáng kể đến TSSL trên cổ phiếu.
Trƣớc đó, kết quả nghiên cứu của Sayari, Mraihi, Finet, , Omri (2013) cũng chỉ ra kết luận tƣơng tự cho cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Tunisa [23], [27]. Cotten (2005) chỉ ra những bằng chứng về việc gia tăng TSSL có tác động từ quản trị lợi nhuận và tác giả cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận góp phần vào sự bất thƣờng và làm suy yếu hiệu quả của thị trƣờng, thông qua mô hình nghiên cứu tác động của biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA), quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trƣờng (Book-to- market value) đến TSSL trên cổ phiếu hằng năm của công ty. Nghiên cứu của Birjandi, Mohammad, Mohammad (2015) về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và TSSL trên cổ phiếu tại Tehran cho thấy có mối quan hệ thuận chiều đáng kể giữa TSSL trên cổ phiếu và quản trị lợi nhuận, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa TSSL trên cổ phiếu và tỷ suất nợ trên tổng tài sản (tỷ suất nợ) [12]. Bên cạnh những nghiên cứu về ảnh hƣởng của quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu, các nghiên cứu khác chỉ ra ảnh hƣởng của các chỉ tiêu kế Luan van 6 toán, tài chính đến TSSL trên cổ phiếu.
Florou và Chalevas (2010) nghiên cứu ảnh hƣởng của các chỉ tiêu kế toán đến TSSL trên cổ phiếu ở Hy Lạp, thông qua mô hình với biến phụ thuộc là Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), Vòng quay tổng tài sản, hệ số thanh toán hiện hành, tỷ suất nợ, lợi nhuận trƣớc thuế và lãi, khấu hao (EBITDA), tỷ số giá trị thị trƣờng và giá trị sổ sách (MV/BV). Kết quả mô hình cho thấy ROS, EBITDA và MV/BV ảnh hƣởng cùng chiều đến TSSL trên cổ phiếu [17]. Aras và Yilmaz (2008) trong nghiên cứu về tác động của Tỷ suất cổ tức trên giá cổ phiếu (DY), Tỷ suất giá trị thị trƣờng trên thu nhập (P/E) và tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trƣờng (B/M) đến TSSL trên cổ phiếu của 12 thị trƣờng cổ phiếu mới nổi, đã chỉ ra rằng, tỷ số B/M và DY có ý nghĩa trong việc dự đoán TSSL trên cổ phiếu, tuy nhiên tỷ số B/M có ý nghĩa hơn cả, P/E ít có ý nghĩa hơn 2 tỷ số còn lại. Nghiên cứu còn cho thấy, sự kết hợp khác nhau của những nhân tố này làm cho phân tích có ý nghĩa hơn [11].
Trong nghiên cứu của Kheradyar, Ibrahim và Mat Nor (2011) về mối quan hệ giữa TSSL trên cổ phiếu và các tỷ số tài chính: Tỷ suất cổ tức trên giá cổ phiếu (DY), Tỷ suất thu nhập trên giá cổ phiếu (EY) và Tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trƣờng (B/M), tác giả kết luận cả 3 chỉ số đều có động đến TSSL trên cổ phiếu, trong đó, tỷ suất B/M có ảnh hƣởng nhiều hơn 2 tỷ số còn lại đối với TSSL trên cổ phiếu. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ số này sẽ đƣa ra dự đoán chính xác về TSSL hơn nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ số. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ số này sẽ đƣa ra dự đoán chính xác về TSSL hơn là chỉ nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ số [19]. Phân tích của Bukit (2013) về tác động của giá trị giá trị thị trƣờng so với giá trị sổ sách (M/B), Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thu nhập trên mỗi cổ Luan van 7 phần (EPS) đến TSSL trên cổ phiếu tại Indonesia đã cho thấy M/B, DPR, ROA và EPS có ảnh hƣởng đến TSSL trên cổ phiếu trong khi đó ROE không có ảnh hƣởng trong mô hình.
M/B, DPR và EPS có tác động cùng chiều còn ROA có tác động ngƣợc chiều dến TSSL trên cổ phiếu.Trong đó ROA, DPR và M/B có tác động nhiều nhất đến TSSL trên cổ phiếu trên thị trƣờng Indonesia [13]. Nhân tố tỷ suất cổ tức cũng đƣợc chỉ ra có mối quan hệ với TSSL trên cổ phiếu ở thị trƣờng trong nghiên cứu của Safari (2009) ở thị trƣờng Malaysia, tác giả cho rằng, sở dĩ cổ tức có thể có liên quan đến TSSL ở chỗ cổ tức có thể làm nhà đầu tƣ bỏ qua các rủi ro. Tác giả cũng chỉ ra rằng ở các thị trƣờng phát triển, có một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất cổ tức và lợi nhuận cổ phiếu trên thị trƣờng giá xuống và một mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tỷ suất cổ tức và TSSL trên cổ phiếu trong thị trƣờng giá lên. Ngƣợc lại với điều này, trên TTCK Malaysia, có tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất cổ tức và TSSL trên cổ phiếu ở cả thị trƣờng giá lên và xuống [26].
Ngoài các nhân tố trên, theo Aga và Samadiyan (2013) tỷ số khả năng thanh toán cũng có tác động đến TSSL trên cổ phiếu. Theo đó, tỷ số thanh toán hiện hành có mối quan hệ cùng chiều với TSSL trên cổ phiếu tại Tehran. Tác giả cho rằng, nhà đầu tƣ, những ngƣời nắm giữ cổ phiếu có thể xem xét sự tăng lên của tỷ số thanh toán hiện hành nhƣ là dấu hiệu của sự tăng giá trị tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của công ty [9]. Tuy nhiên trong nghiên cứu của Florou and Chalevas (2010) lại chỉ ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tỷ số thanh toán hiện hành và TSSL trên cổ phiếu.
Điều này phù hợp nghiên cứu của Stefano (2015). Qua những tổng hợp ở trên, có thể nhận thấy, TSSL trên cổ phiếu còn phụ thuộc vào các tỷ số tài chính của công ty. Tại Việt Nam, có những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ Luan van 8 suât sinh lợi trên cổ phiếu, tuy nhiên chƣa có nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và TSSL trên cổ phiếu. Theo Trƣơng Đông Lộc, Nghiêm Minh Thƣ và Võ Văn Dứt (2016), TSSL của các cổ phiếu có mối tƣơng quan thuận với rủi ro thị trƣờng, quy mô công ty, tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trƣờng và tỷ số thanh toán hiện thời của công ty, nhƣng lại có mối tƣơng quan nghịch với nhân tố xu hƣớng [4].
Các nghiên cứu về tỷ suât sinh lợi trên cổ phiếu tại Việt Nam chủ yếu là các nghiên cứu về mô hình dự đoán TSSL cổ phiếu thông qua mô hình CAPM và mô hình Fama, nhƣ trong các nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp (2016), Võ Hồng Đức và Mai Duy Tân (2014), Trƣơng Đông Lộc và Dƣơng Thị Hoàng Trang (2014). Hành vi quản trị lợi nhuận cũng đã đƣợc nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, chủ yếu là các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hƣởng đến quản trị lợi nhuận. Có các phƣơng pháp nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận đã đƣợc nghiên cứu để áp dụng tại Việt Nam, Phùng Anh Thƣ (2016) đã thực hiện kiểm định mức độ phù hợp của bốn mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận phổ biến trên thế giới gồm mô hình của Jones (1991), mô hình Modified Jones của Dechow, Sloan, Sweeney (1995), mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) và mô hình Phạm Thị Bích Vân (2012).