Chương 1 cũng giới thiệu mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO 2.1 Lý thuyết chung về lãnh đạo 2.1Khái niệm lãnh đạo Đã có rất nhiều các nghiên cứu về lãnh đạo cùng với đó là những quan điểm khoa học khác nhau về khái niệm lãnh đạo. Theo Gary Yukl (2006): Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến người khác để người đó hiểu và đồng thuận về những gì cần phải làm và các cách thức thực hiện, là quá trình tạo điều kiện để cá nhân nổ lực thực hiện mục tiêu đã đề ra. Theo Hollander (1978): Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng giữa nhà lãnh đạo và những người thuộc cấp.
Khi đó, lãnh đạo đòi hỏi việc sử dụng quyền lực để ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của người khác (Zalenik, 1992). Việc ảnh hưởng này đòi hỏi người lãnh đạo phải tạo ảnh hưởng lên một tổ chức nhằm nổ lực đạt được một mục tiêu chung đã được thiết lập (Stogdill, 1950). Theo Tannenbaum và cộng sự (1961): Lãnh đạo là sự ảnh hưởng và tương tác nhằm hướng tới việc đạt được những mục tiêu đã đặt ra thông qua quá trình giao tiếp, chỉ đạo trong những tình huống cụ thể. Theo Jaques & Clement (1994): Lãnh đạo là quá trình một người thiết lập mục tiêu hay chỉ dẫn cho người khác và hướng những người đó cùng theo đuổi mục tiêu này với trách nhiệm và sự cam kết trọn vẹn.
Theo Peter Northouse (2007): Lãnh đạo là quá trình một cá nhân ảnh hưởng đến một nhóm để đạt được một mục tiêu chung. Theo Voon (2011) cho rằng lãnh đạo là một quá trình tương tác giữa lãnh đạo và nhân viên, trong đó người lãnh đạo gây ảnh hưởng đến hành vi của nhân viên để đạt được những mục tiêu của tổ chức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Từ điển tâm lí học, trong cuốn Dictionary of Psychology của J. Chaplin, xuất bản tại Mĩ năm 1968 viết: "Lãnh đạo là sự vận dụng quyền lực, là sự định hướng, dẫn dắt và kiểm tra người khác trong hoạt động quản lí".
Tóm lại: Có thể hiểu lãnh đạo là sự tác động, ảnh hưởng của một người đến một nhóm để dẫn dắt, định hướng, tạo điều kiện cho các cá nhân trong nhóm cùng nổ lực thực hiện một mục tiêu chung của tổ chức. Lãnh đạo và nhóm có sự tương tác, ảnh hưởng đến nhau trong quá trình thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Trong đó, người lãnh đạo có vai trò chủ động trong mối quan hệ tương tác này với rất nhiều vai trò liên quan đến giao tiếp ứng xử, hoạch định công việc và động viên. Trong nghiên cứu này, định nghĩa được sử dụng là định nghĩa về lãnh đạo của Jaques & Clement (1994).2 Quan điểm phân biệt lãnh đạo và quản lý Theo Zaleznik (1986), nhà quản lý được xem là một nhà vận hành thụ động được vây quanh bởi mọi người và có dự định duy trì các hoạt động đang diễn ra, trong khi đó nhà lãnh đạo dường như là một người đơn độc, tiên liệu và hành động trước, trực giác, mạnh mẽ, quyết đoán, và bị hút vào những tình huống rủi ro cao khi những phần thưởng cho sự thành công là vô cùng to lớn.
Lãnh đạo và quản lý có những sự khác nhau. Vai trò quản lý là duy trì những sự ổn định và trật tự trong tổ chức thông qua giám sát. Để đạt được mục tiêu đề ra, quản lý dựa vào việc sử dụng một hệ thống các qui định, các chính sách, các thủ tục đã được ban hành. Lãnh đạo đạt được mục tiêu dựa trên sự động viên, lôi kéo và khuyến khích người khác làm việc một cách tự nguyện.
Như vậy, lãnh đạo đạt được kết quả thông qua người khác nhờ việc định rõ mục tiêu còn quản lý thì cụ thể hoá các mục tiêu đó thành những bước đi cụ thể. Phân công công việc cụ thể cho nhân viên cấp dưới là vai trò quản lý nhưng phân công đúng người, đúng việc là vai trò lãnh đạo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tuy vậy, trong bối cảnh nghiên cứu tại doanh nghiệp nhà nước, do đặc thù của nền văn hóa phương Đông, sự tiếp xúc và tương tác giữa nhân viên và các nhà lãnh đạo của công ty là rất ít. Do đó, nếu chỉ xem xét lãnh đạo đúng nghĩa như là người đứng đầu tổ chức thì việc khảo sát không thể đánh giá đúng thực tế vì nhân viên tiếp xúc thường xuyên hơn với người quản lý, người cấp trên trực tiếp.
Chính người quản lý, người cấp trên trực tiếp là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thỏa mãn công việc của nhân viên. Đây là người trực tiếp truyền đạt các chính sách của công ty, người giao việc, giám sát công việc, đánh giá nhân viên. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả khảo sát sự thỏa mãn của nhân viên với người quản lý trực tiếp.3 Cách tiếp cận trong nghiên cứu về lãnh đạo Để nghiên cứu về lãnh đạo, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận lãnh đạo như: tiếp cận về phẩm chất, tiếp cận về hành vi, tiếp cận về tình huống, tiếp cận về mức độ chuyển đổi của lãnh đạo với các học thuyết như sau: Cách tiếp cận theo hướng phẩm chất của người lãnh đạo Cách tiếp cận này quan tâm đến việc tìm ra những tố chất của người lãnh đạo hiệu quả (Northouse, 2010). Những tố chất này của người lãnh đạo là bẩm sinh.
Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là không khuyến khích người lãnh đạo học tập, nổ lực. Các nội dung trong lý thuyết về người lãnh đạo vĩ đại có thể minh chứng cho các đặc điểm này. Theo cách tiếp cận về phẩm chất của người lãnh đạo có lý thuyết về người lãnh đạo vĩ đại: Lý thuyết về người lãnh đạo vĩ đại Đây là lý thuyết sớm nhất trong các lý thuyết về người lãnh đạo. Lý thuyết này cho rằng khả năng lãnh đạo có được là do bẩm sinh chứ không phải do rèn luyện mà có.
Người lãnh đạo là người khi sinh ra đã được trời phú cho các tố chất lãnh đạo. Đó là các tố chất khiến người ấy luôn có sự lôi cuốn người khác, có khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 năng cống hiến và sự sáng suốt nổi bật lên và dù thế nào đi nữa, người đó sẽ gánh vác trách nhiệm lãnh đạo. Theo lý thuyết này, người lãnh đạo là các vĩ nhân, các nhân vật xuất chúng với những đặc tính bẩm sinh nổi trội hơn hẳn các cá nhân khác trong xã hội đương thời. Lý thuyết này tập trung mọi sự chú ý vào cá nhân của người lãnh đạo, mà không quan tâm đến hoàn cảnh bên ngoài.
Đây chính là hạn chế của lý thuyết này. Trên thực tế muốn lãnh đạo thành công phải hiểu rõ hoàn cảnh môi trường bên ngoài, hiểu rõ đối tượng lãnh đạo và điều kiện thực hiện quá trình lãnh đạo của mình. Tiếp cận theo hướng hành vi của người lãnh đạo House và Mitchell (1974) định nghĩa bốn kiểu hành vi lãnh đạo hoặc phong cách được dựa trên hai yếu tố đã được đưa ra bởi trường đại học bang Ohio (Stogdill, 1974). Lý thuyết này cho rằng nhà lãnh đạo luôn linh hoạt trong việc thay đổi hành vi hoặc phong cách của mình để phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau.
Hành vi của người lãnh đạo có thể chia thành 2 nhóm: quan tâm đến công việc và quan tâm đến con người. Thứ nhất, khuynh hướng quan tâm đến công việc, như đặt ra các mục tiêu thực hiện, lập kế hoạch và lịch trình làm việc, điều phối các hoạt động, đưa ra các định hướng, đặt ra các tiêu chuẩn, cung cấp nguồn lực và giám sát thực hiện của cấp dưới. Thứ hai, quan tâm đến con người với các mối quan hệ như bày tỏ sự quan tâm cảm thông và cảm xúc, hỗ trợ những nhu cầu, bày tỏ sự tin tưởng, sự đánh giá cao, thiết lập mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau và cho phép cấp dưới tham gia vào quá trình ra quyết định. Theo Northouse (2010), các công việc với tính chất đơn giản có tính lặp đi lặp lại thì các hành vi quan tâm cá nhân hay quan tâm công việc là không cần thiết.
Do đó, lãnh đạo trường hợp này cần phải theo tình huống. Tiếp cận theo hướng tình huống Đối với lãnh đạo theo tình huống thì phương pháp tiếp cận là hành vi quan sát được không phải là khả năng bẩm sinh. Tình huống là một trong các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự thành công của một người lãnh đạo và tình huống luôn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 biến đổi. Vì vậy, phong cách lãnh đạo phải phù hợp với tình huống cụ thể.
Một số mô hình lãnh đạo về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và những tình huống cụ thể đã được phát triển. Tiêu biểu là mô hình lãnh đạo của Fiedler, mô hình tình huống của Hersey và Blanchard và mô hình đường dẫn đến mục tiêu. Mô hình của Fiedler Mô hình lãnh đạo này cho rằng kết quả làm việc của nhóm có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào phong cách lãnh đạo. Phong cách lãnh đạo có 2 dạng: Chú trọng đến mối quan hệ giữa lãnh đạo và cấp dưới, chú trọng đến nhiệm vụ hay còn được gọi là quan tâm đến năng suất.
Yếu tố tạo ra tình huống có 3 loại: mối quan hệ giữa người lãnh đạo và các thành viên trong nhóm, cấu trúc nhiệm vụ thể hiện quy trình của công việc được giao, vị trí quyền lực thể hiện mức độ ảnh hưởng của người lãnh đạo đến các vấn đề như tuyển dụng, sa thải, kỷ luận, thăng tiến và tăng lương. Từ 3 tình huống này, Fiedler đưa ra 8 dạng tình huống khác nhau mà người lãnh đạo có thể gặp phải. Mô hình tình huống lãnh đạo của Hersey và Blanchard Mô hình tình huống lãnh đạo của Hersey và Blanchard tập trung vào đặc điểm của nhân viên khi xác định phong cách lãnh đạo phù hợp vì theo các tác giả, các nhân viên cấp dưới rất khác nhau về mức độ sẵn sàng đối với công việc. Nhìn chung, mô hình của Hersey cũng mới chỉ xét đến mức độ sẵn sàng của nhân viên với công việc mà chưa tính đến các yếu tố tình huống.