CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NHẬT BẢN 1. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản 1. Sự du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản - Điều kiện tự nhiên và xã hội của Nhật Bản Nhật Bản là quần đảo ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương với chiều dài 4000km. Quần đảo này gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ với diện tích vào khoảng 322.000km2; Với 4 đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và nhiều đảo nhỏ.
Điểm đặc biệt là, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa hoạt động; hàng năm gây nhiều tai họa cho con người và xã hội. Điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh với những vách đá thẳng đứng, đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và đẹp. Từ hình dạng của lãnh thổ như hình trăng lưỡi liềm hay hình con tằm, nên nhiều người tin rằng, Nhật Bản muốn tồn tại phải dựa vào Trung Quốc, vì hình dạng Trung Quốc giống lá dâu. Tuy vậy, sự phỏng đoán nặng tính tư biện đó đã không đúng với thực tế lịch sử.
Sức tự cường của người Nhật đã giữ cho đất nước họ không lâm vào tình trạng phụ thuộc vào nước ngoài. Nhật Bản là nước duy nhất ở Đông Bắc Á không rơi vào thảm họa thực dân trong thời kỳ thực dân hóa. Về phương diện nhân chủng học, người Nhật Bản hiện nay là kết qủa của sự cộng sinh nhiều dòng máu của nhiều tộc người khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà nhân chủng học và khảo cổ học, đất nước Nhật Bản có vết chân người từ cuối thời đại đồ đá mới (cách đây khoảng 3.
Xét về mặt địa lý - lãnh thổ, người ta đã phát hiện thấy sự liên kết chặt chẽ giữa lục địa Trung Hoa và quần đảo Nhật Bản. Từ đó có suy luận rằng, gốc gác (LUAN.Ban 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ban người Nhật có quan hệ với các tộc người ở đại lục Trung Quốc. Các tác giả của Lịch sử Phật giáo thế giới cho rằng người Nhật gồm ba hệ dân lớn [45, tr.15-98]: - Tộc người Hà Di (Ainu): Gốc da trắng ở châu Âu, vượt Xibêri đến Nhật Bản. - Tộc người Thông Cổ Tư vốn sống ở Tây Á, trong đó tộc Thiên Tôn lớn nhất.
Tộc người này lấy đất Đại Hòa làm căn cứ nên còn gọi là dân tộc Đại hòa. Đây là nòng cốt của dân tộc Nhật Bản và là người Nhật Bản gốc. - Một số tộc người thiểu số khác. Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản khá đa dạng, khí hậu ôn đới, cây cối tốt tươi, rậm rạp… có những ảnh hưởng đến tính cách, tâm lý người Nhật, như rèn luyện tinh thần dũng cảm, tính tiến thủ mà biểu tượng được ví như núi Fuji.
Ngoài ra, người Nhật cũng khá cởi mở, nặng tính thực dụng với một bản lĩnh thép được hun đúc qua quá trình phát triển của đất nước. Đánh giá về tính cách, tâm lý người Nhật, Edwin O. Reischauer trong cuốn "Nhật Bản quá khứ và hiện tại" [53, tr.16] cho rằng, ý thức về tinh thần liên kết trong thị tộc và niềm tin vào tầm quan trọng của các quyền lợi và uy quyền cha truyền con nối, chắc chắn phải là khá mạnh trong dân tộc này. Vì những sức mạnh này luôn chiếm ưu thế trong suốt lịch sử của Nhật Bản và vẫn còn rất sống động trong nước Nhật hiện đại.
Có lẽ hình ảnh người chiến sĩ quý tộc, người đàn ông kỵ mã, lúc bấy giờ đã có một vị trí quan trọng trong xã hội Nhật, bởi vì các hình ảnh mờ ảo này của Nhật Bản thời sơ khai đã vượt qua được trận lũ của nền văn minh vay mượn Trung Hoa, để sau này thông qua truyền thống "Võ sĩ đạo" trỗi lên như cột xương sống của Nhật Bản thời phong kiến. Tính thống nhất cao về chủng tộc (người Nhật chiếm 99,5% dân số) và điều kiện tự nhiên - lịch sử có tính độc lập của một quần đảo, đã tạo nên sự thống nhất dân tộc cao độ, từ đó là sự thống nhất tôn giáo trên cơ sở tôn giáo bản địa (Thần Đạo); và cũng có thể nói, Phật giáo từ một tôn giáo ngoại nhập, đã trở thành tôn giáo bản địa trên nhiều phương diện khác nhau.Ban 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ban - Tổ chức xã hội Nhật Bản thời kỳ du nhập Phật giáo Theo nhiều học giả Nhật Bản, mặc dù hai cuốn sách Cổ sự ký (Kojiki) và Nhật Bản thư ký (Nihonshoki) được biên soạn vào thế kỷ thứ VIII mang nhiều tính truyền thuyết và thần thoại, nhưng là những tài liệu quan trọng, để nghiên cứu xã hội Nhật Bản cổ đại. Qua các truyền thuyết và những câu chuyện dân gian, có thể hình dung xã hội Nhật Bản tồn tại trên những nguyên tắc của một nền quân chủ. Giáo lý của Shinto (con đường của thần thánh) không mạnh và làm say lòng người như một tôn giáo thực thụ, nhưng cũng thể hiện rõ ý thức dân tộc của người Nhật.
Tín ngưỡng Shinto, những ước nguyện về một cuộc sống tốt đẹp được hòa quyện với lòng yêu nước, bởi người Nhật nghĩ rằng, Nhật Bản là đất nước thần thánh. Ai được thần thánh tin cẩn sẽ được giao quyền cai trị đất nước. Vì lẽ đó, trong đời sống, đạo có vị trí chỉ đạo ý thức cộng đồng. Theo đó, cá nhân chỉ tồn tại được khi là thành viên của gia đình.
Một gia đình chỉ tồn tại được khi là thành viên của quốc gia. Hiện tại phải hy sinh cho truyền thống và cho những khát vọng tương lai. Thông qua các truyền thuyết, người ta cũng thấy rằng, quyền lực xã hội tập trung ở các Tenno (Thiên hoàng), mặc dù quyền lực đó không phải lúc nào cũng được thực hiện suôn sẻ. Chính quyền Trung ương của Thiên hoàng có quyền lực cai quản các tộc người khác, trong đó có những tộc người mạnh.
Những tộc người đó mặc dù thần phục Thiên hoàng nhưng vẫn có quyền lực độc lập, vẫn có khả năng kiểm soát đất đai và cư dân của mình. Thiên hoàng thường đại diện cho một tộc người lớn mạnh nhất và được coi là sứ giả, đại diện cho thần dân trong mối quan hệ với thần thánh. Quyền lực đó, vì vậy mang tính tôn giáo nhiều hơn là tính chính trị. Nó dựa vào Thần đạo và tìm thấy ở Phật giáo sức mạnh tâm linh, để tập hợp và lãnh đạo Thần dân.
Các đại thần, thường là những người đứng đầu các dòng họ quý tộc Nakutomi và Imibe. Họ là các chúa đất có quyền lực; quyền lực ấy đươc duy (LUAN.Ban 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ban trì theo kiểu cha truyền con nối về mặt tôn giáo. Thường thì những người đứng đầu các dòng họ quý tộc cứ mỗi năm hai lần, làm chủ lễ đọc kinh cầu nguyện trong các dịp lễ tẩy uế, cầu xin thần linh gột bỏ ô uế và tội ác cho dân lành. Tùy theo tương quan lực lượng giữa các dòng họ mà quy định dòng họ nào được đảm nhiệm chức năng gì.
Vì vậy, trong xã hội Nhật Bản cổ đại và trung đại, cuộc tranh giành giữa các dòng họ cũng hay xảy ra. Việc chọn người đứng đầu tộc người có một số tiêu chí nhất định, hoặc họ là người giàu có, hoặc có khả năng sản xuất những đồ quý hiếm hay có tay nghề cao trong một số ngành thủ công mỹ nghệ. Có thể nói, trong xã hội Nhật Bản cổ đại và trung đại, các tầng lớp quý tộc và chúa đất ở trung ương và địa phương với vây cánh của họ đã chi phối quyền lực của triều đình. Họ có thể buộc triều đình có hành động theo ý muốn của họ, kể cả việc bành trướng lãnh thổ.
Họ xây dựng thế lực và có thể lôi kéo các thủ lĩnh địa phương đi theo mình. Chính sách của họ là tập hợp những người thợ giỏi, cho họ quyền lợi thỏa đáng để lôi kéo họ. Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh lịch sử như vậy. Lúc đầu, nó được đưa vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên, Trung Hoa vốn là những người buôn bán hoặc tù binh; sau đó, do nhu cầu xã hội và phù hợp với tâm lý văn hóa của người Nhật, đặc biệt nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, Phật giáo chính thức được thừa nhận và phát triển khá nhanh.
- Tín ngưỡng bản địa Phật giáo du nhập vào Nhật Bản trong bối cảnh người Nhật đã có một truyền thống tín ngưỡng khá vững chắc: tín ngưỡng về Thần (Kami). Thần là đối tượng của sự thờ cúng trong Thần đạo đã tồn tại từ thời cổ đại [3, tr. Thần có nhiều loại nhưng có một số đặc điểm chung như: không có hình dạng riêng nhưng có thể được mời gọi đến với những hình thức mời thích hợp; tuy (LUAN.Ban 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ban là thực thể trừu tượng nhưng có thể mang phúc hay chuốc họa cho con người, tùy thuộc vào thái độ đối xử của con người đối với Thần; Thần có thế giới riêng nhưng vẫn có thể viếng thăm thế giới loài người; Thần là thế lực có thể ban phát cho con người những lợi ích vật chất mà không đại diện cho một thứ chân lý tối hậu. Từ đó có thể thấy, về thực chất, Thần đạo có những khác biệt căn bản với Phật giáo.
Điểm căn bản nhất ở chỗ, Thần là trừu tượng trong khi Phật là cụ thể. Tôn sùng, thờ cúng Thần sẽ được đền đáp, trong khi Phật chủ trương chính con người tự chịu trách nhiệm về kết quả của hành động bản thân, mà không nên trông chờ bất kỳ một sự ban phát nào, nhất là trong quan niệm của Phật giáo nguyên thủy. Thần là thế lực ban phát trong khi Phật đại diện cho chân lý tối hậu. Thần đạo không có đủ một hệ thống giá trị đạo đức được xem là chân lý.
Vì những lẽ trên, nên từ buổi đầu du nhập, Phật giáo luôn góp phần bổ sung, bù đắp cho những điều mà Thần đạo không thể có. Do đó xuất hiện xu hướng hỗn dung, vay mượn lẫn nhau giữa Thần và Phật. Đây là một thực tế trong đời sống tín ngưỡng của người Nhật Bản. Bách khoa toàn thư Nhật Bản khẳng định: "Đạo Phật đã cung cấp cho người Nhật toàn bộ khái niệm về đạo đức… Đạo Phật đã đưa đến cho văn hóa Nhật Bản những từ về lòng thương xót, anh minh, lòng từ bi, lòng nhân ái…" [3, tr.
- Các tôn giáo ngoại nhập muốn bắt rễ vào một khu vực nào đó không thể không dựa vào tôn giáo truyền thống, nhưng ở Nhật Bản vì trong giai đoạn đó, Thần đạo đã là một tôn giáo phổ biến của người dân, lại có nhiều dị biệt với Phật giáo, nên sự du nhập diễn ra khó khăn hơn.