Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây mít 1.1 Phân loại và nguồn gốc Bảng 1.1 Phân loại khoa học (Scientific classification) (Ly Thi Le, 2006) Giới (regnum) Thực vật (Plantae) Ngành (Division) Thực vật hạt kín (Magnoliophyta) Lớp (Class) Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ (Ordo) Hoa hồng (Rosales) Ho (Familia) Dau tam (Moraceae) Chi (Genus) Mit (Artocarpus) Loai (Species) Artocarpus heterophyllus Lam Nguôn gôc và phan bô Mit có nguồn gốc ở miền Tây Ghast thuộc An Độ và được trồng lâu đời ở vùng dat của kiêu khí hậu rừng mưa nhiệt đới ở Đông Nam A (Sidhu,2012), ở Việt Nam giống như chuối, mít được trồng khắp nơi. Mít cũng được trồng ở nhiều vùng của Châu Phi và Châu Mỹ (Brazil, vùng Caribe, Florida) và được đưa vào nhiều vùng của các đảo ở Thái Bình Dương, ké cả những nơi có độ cao thấp hơn mực nước biển (Nguyễn Văn Kế, 2014).2 Đặc điểm thực vật Than Cây thường xanh, thân gỗ kích cỡ từ trung bình đến rat to, cao 10 - 20 m, đôi khi đạt tới 30 m, với một rễ cọc dài và rễ bao xung quanh dày đặc. Rễ bao quanh hình nón khi cây còn nhỏ hoặc phát triển trong điều kiện bóng râm và đạt đường kính 3,5 - 6,7 m sau năm năm, thân cây trở nên tròn và hơi bât cân đôi khi cây nhiêu năm tuôi. Thân cây thường có đường kính khoảng từ 80 - 100 -120 cm nhưng có thé lớn hơn nhiều ở những cây già.
Vỏ cây day ít nứt, màu xám sam, có vay màu nâu xám hoặc xám đen. Các cành nhánh ra từ vị trí thấp trên thân cây với góc từ 30-90°. Canh non có lông và có vết vòng của lá kèm (Pham Hùng Cường, 2021). Lá Lá đơn, mọc cách, phiến lá dày hình trái xoan rộng, hình thuôn, trứng ngược hoặc elip, lá trên các cành trưởng thành có xu hướng hình trứng ngược nhiều hơn và lá trên các nhánh chi non thường thuôn dai và hẹp hơn.
Chiều dai lá biến động từ 7 - 25 cm và rộng từ 3 - 12 cm, cuống lá đài 1 - 2,5 cm. Phiến lá dai như da, không lông, cứng ráp và màu xanh đậm, bóng phía mặt trên và màu xanh nhạt mặt bên dưới, phía đầu mép lá lượn sóng nhưng nhẫn ở mặt dưới. Gan lá xếp hình lông chim thường có khoảng 5 - 12 cặp gân, gân giữa và gân chính có màu trắng xanh đến vàng nhạt. Gốc lá có hình nêm hoặc tù ở tất cả các lá trên cây trưởng thành, nhưng ở cây non hình dạng lá không theo quy luật mà thường xẻ 3 thùy.
Các phiến lá phẳng, nhăn hoặc với các cạnh lá hướng lên. Dinh lá tù, tròn hoặc có đầu ngắn. Từ điểm rộng nhất về hai đầu lá thon dan đến cuống lá. Cuống lá có màu xanh đậm, dai từ 1- 5 em và có rãnh ở mặt đối diện của cuống.
Lá được mọc xen kẽ trên cành ngang nhưng có xu hướng xoắn ốc trên các nhánh tăng dần với kiểu sắp xếp lá 2/5. Có hiện diện các lá kèm lớn hình trứng đính thành mo ôm cành, dai khoảng 4 - 8 cm và rộng 1-3 cm, rụng sớm để lại sẹo nhìn rõ trên điểm tiếp giáp (Phạm Hung Cường, 2021). Hoa Mit là loài có hoa đực và hoa cái cùng mọc trên một cây gọi là đơn tính đồng chu, các cụm hoa đực và hoa cái được sinh ra riêng biệt trên các nách lá, trên thân cây hoặc trên các cành gia. Trong một số trường hợp, chúng cũng có thé được sinh ra trên các phần thân ngầm trong đất, tạo ra những quả nhô lên khỏi mặt đất.
Những hoa riêng lẻ được sinh ra trên một trục thuôn dải vả tập trung sát nhau thành một cụm hoa hình đuôi sóc, còn được gọi là bông hoặc hình đầu (Phạm Hùng Cường, 2021). Mỗi cụm hoa đực hoặc hoa cái gồm một số lượng lớn hoa được sinh ra trên một trục hình chùy. Cụm hoa cái được sinh ra trên bệ cuống trong khi các hoa đực vừa có thé sinh ra trên bệ cuống cũng như trên chdi cuối. Hoa đực có cuống ngắn hoặc không 3 có cuông nêu sinh ra ở chôi cuôi.
Các chối cuôi có đường kính khoảng 0,4 cm moc ra từ 7 dén 8 lá và chi sinh ra các hoa đực mọc ở cuôi chôi. Một hoa đực được hình thành trên một chồi cuối trong mỗi mùa hoa (Pham Hùng Cường, 2021). Có 3 loại chéi mang hoa, một loại không mang quả vì nó chỉ có hoa đực, hai loại có thé cho quả gồm: chỉ có hoa cái, cả hoa cái và hoa đực. Các chéi hoa đực thường xuất hiện trên cành hoặc thân vào đầu mùa hoa.
Chúng xuất hiện và có cấu tạo giống như các búp lộc có màu vàng xanh, nhưng sau đó chúng phát triển thành lá hoặc các nhánh bên. Những chồi hoa đực nay mập hơn so với các chỗồi cuối, đường kính khoảng 0,72 cm. Chúng cũng chứa ít lá hơn và tạo ra nhiều hoa đực (khoảng ba hoa trên mỗi chồi cụm hoa ở mỗi mùa). Hoa đực bắt đầu nhú ra vào tuần thứ tư sau khi chéi hoa xuất hiện, hoa đực nở trước hoa cái từ 3-5 ngày.
Chồi cuống hoa cái mập, khỏe hơn nhiều so với những chồi cuống hoa đực hoặc ca hoa đực và cái (Phạm Hùng Cường, 2021). Quả Qua Mit là một qua tụ lớn còn gọi là quả phức màu vàng dài 30 - 100 cm va đường kính 25-50 cm, hình dang quả biến thiên từ hình trụ tròn đến hình quả lê treo trên một cuống bên chắc. Bề mặt quả có nhiều gai nhỏ hình chóp nhô ra chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả Mít hầu như ăn được.
Quả phức gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quá thật phát triển tạo thành múi. Mit có phần thịt mềm, là thành phần chính dé ăn từ quả mít. Các bao hoa của từng quả thật riêng lẻ phát triển thành các múi và bao quanh các hạt, mỗi thịt múi và một hạt là một quả riêng lẻ. Thịt múi có màu vàng trắng hoặc vàng và vàng nhạt (Pham Hùng Cường, 2021).
Trục quả hình thanh từ trục của cụm hoa cái trưởng thành khi quả đã phát triển và có hình chùy hoặc hình vòm. Nó cứng chắc và có cấu tạo cùi. Trục này chứa các nhu mô rộng thuôn dài và các thành phần mạch cũng như nhiều chất dẫn xuất nhựa mủ làm cho phan này của quả không ăn được. Phan tự do thấp hơn của bệ hoa là phần thịt qua duy nhất và có thể ăn được.
Phần hợp nhất ở giữa và vùng tự đo phía trên của hoa cái tạo nên vỏ quả, nó là cái sau này tạo thành các đỉnh hình nón của vỏ và điều này có thể phân biệt giữa lông, lớp ha bì cứng, mô nền thành dày, các thành phần mach, vỏ xơ và tạo nhựa mủ làm cho các vùng hình non của quả cứng nhac va bảo vệ quả (Phạm Hùng Cuong, 2021). Hat Trong múi Mit da số có hat và đôi khi không có do hạt bị thoái hóa. Hạt rắn chắc và màu sáp, hình bầu dục, hình thuôn hoặc thuôn dài hình elip. Mỗi hạt có kích thước 2-4 x 1-2 em và khối lượng 2,5-14 g với một lớp vỏ da.
Thông thường mỗi quả tụ có từ 100 đến 500 hạt. Vỏ ngoài hạt mỏng giống như giấy, cứng, dai như da và nhăn nheo khi khô. Phía trong vỏ hạt là màng mỏng có màu nâu. Rén hat day, nằm cùng vị trí với lỗ noãn ở đầu xa hoặc gần đầu màng bọc của hạt.
Có 2 lá mầm (tử điệp) không bằng nhau, với một lá mầm có kích thước chỉ bằng khoảng một nửa của lá kia. Nội nhũ nếu có rất nhỏ. Phôi có một rễ mầm nhỏ nổi ở bề ngoài (thùy cơ bản của lá mầm nhỏ hơn chưa được phát triển) (Pham Hùng Cường, 2021). Yêu cầu sinh thái Nhiệt độ và âm độ Cây mit chỉ thích nghỉ với khí hậu nhiệt đới âm và cận nhiệt đới.
Nhiệt độ thích hợp cho cây Mit sinh trưởng va phát triển thuận lợi là 20 — 32°C. Cây mít nhạy cảm với sương giá. Khi nhiệt độ hạ thấp đến 0° C lá mít sẽ hỏng. Khi nhiệt độ xuống tới -1°C cành bắt đầu chết, cả cành và cây có thé bị chết ở khi nhiệt độ xuống tới -2° C (Haq, 2006; Jonathan va cs.
Cây Mit sinh trưởng tốt nhất ở độ âm không khí từ 70 - 80%. Ở giai đoạn cây ra hoa rất nhạy cảm với độ âm. Nếu quá khô hoặc quá am ướt đều gây rụng quả non. Các thời kỳ khác thì 4m độ không khí hầu như ít ảnh hưởng (Jonathan và cs.
Ánh sáng Mít là cây ưu sáng hoàn toàn. Cây con phát triển tốt khi cường độ ánh sáng khoảng 30-50% ánh sáng mặt trời và chịu được cường độ sáng đến 100% ánh sáng mặt trời khi cây đã trưởng thành. Số giờ nắng cần cho cây là khoảng 2. Nước Mít là cây có bộ rễ ăn sâu, nên có khả năng hút nước ở tầng đất sâu, vì vậy cây chịu hạn tốt.
Mít có thể chịu được điều kiện khô hạn trong 3-4 tháng. Cây mít thuộc nhóm cây ăn quả có khả năng chịu úng kém. Cây có thé chết nếu bị ngập sâu chi sau vài ngày. Chính vì vậy khu vực trồng mít cần được thoát nước tốt.
Nếu dé dat bị dư 4m dai ngày cây dé bị thối nhiin rễ và thối gốc chảy nhựa do tác hại của nắm Pythium splendens, Rhizoctonia sp. Đất trồng Mit là loại cây trồng dé tính, có thé phát triển trên nhiều loại đất khác nhau như: đất đỏ bazan, đất phù sa, đất xám, dat cát, ké cả đất bỏ hoang, đất phù sa cô bị rửa trôi lân, kali mít vẫn có thé phát triển bình thường. Tuy nhiên, mit phát triển tốt nhất trên đất sét pha cat, đất trồng phải cao ráo có tang canh tác sâu, tang đất dày ít nhất 1 m, có mực nước ngầm thấp dưới 1 m so với mặt đất vì cây mít chịu ngập tng kém, dé bị thối rễ khi bị ngập nước nên đất trồng mít phải thoát nước tốt, ở những vùng đất thấp khi trồng phải lên liếp, pH đất thích hợp từ 5 - 7,5. Mít chịu được đất mặn ở mức trung bình (Lê Tất Khang, 2021).
Các vung dat thâp phải lên liép và trông trên mô vì mực nước ngâm gân mặt dat và phải có biện pháp cho rễ đuôi chuột mọc ngang (Nguyễn Văn Kế, 2014).3 Giá trị dinh dưỡng và công dụng của qua Mit Bang 1.