Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về ong B. hebetor Ong Bracon hebetor thuộc bộ Hymenoptera, ho Braconidae, chi Bracon, loài Bracon hebetor. hebetor ký sinh trên ấu trùng sâu gạo (Nguồn: Hussain, 2018) 1.1 Nguồn gốc và phân bố B. hebetor là loài ong ký sinh ấu trùng phân bố rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới (Ghimire, 2008).
hebetor là một loài ong ngoại ký sinh có tập tính bay đàn và tan công ấu trùng của một số loài sâu hại (Ghimire, 2008). hebetor chủ yếu ký sinh trên một số ấu trùng loài bướm đêm thuộc họ Pyralidae như bướm đêm Ấn Độ (Plodia interppunctella), bướm đêm dia trung hải (Ephestia kuehniella), bướm đêm hạnh nhân (Ephestia cautella), ngài gạo (Corcyra cephalonica), sâu sap (Galleria mellonella) (Ghimire, 2008). hebetor là một trong những tac nhân kiểm soát sinh hoc tiềm năng tốt nhất đối với côn trùng gây hại thuộc họ sâu bướm Pyralidae (Ghimire, 2008). Và là tác nhân kiểm soát sinh học quan trọng đối với các loài côn trùng gây hại khác nhau xâm nhập vào kho bảo quản và đồng ruộng (Uwais và ctv, 2006; Imam và ctv, 2007).
Theo Ashfag và ctv (2011) đã báo cáo rằng dựa vào tốc độ lan truyền cao, vòng 3 đời ngắn và ký sinh trên nhiều loài ký chủ mà ong B. hebetor được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về quan hệ ký sinh ký chủ và kiêm soát sinh học.2 Đặc điểm hình thái Ong B. hebetor trải qua quá trình biến thái hoàn toàn với 4 giai đoạn phát triển: trứng, âu trùng, nhộng, thành trùng (Pezzini và ctv, 2017). Trứng: Trứng của ong B.
øebefor có kích thước rất nhỏ và khác nhau với chiều đài và chiều rộng trung bình 0,52 mm và 0,12 mm, có màu trắng đục, có dạng hình bầu duc, thon đài, chiều dai dai hơn chiều rộng khoảng bốn lần, phần đầu (cephalic) tròn va thon dai ở đầu đối diện (Pezzini và ctv, 2017). Au trùng: Dựa vào chiều dai phần đầu và chiều dài cơ thé, ấu trùng ong B. hebetor được phân ra thành 4 giai đoạn gồm ấu trùng tuổi 1, 2, 3, 4 (Pezzini và ctv, 2017). Cơ thể ấu trùng mất dần độ trong suốt, chuyên sang màu trắng đục ở mỗi giai đoạn mới với sự phát triển của ruột.
Mỗi giai đoạn có thời gian phát triển khác nhau (Pezzini va ctv, 2017). - Au trùng tuổi 1: Co thể ấu trùng có phần đầu dạng hình cau, bề mặt co thé nhẫn, không có lông tơ, râu ngắn có thé nhìn thay bên dưới vùng đầu, có đám lông thưa ở vùng phía trước phần đầu, cơ thể có 13 đốt, ba đốt ngực và mười đốt bụng trong đó có 4 một đốt hậu môn (Pezzini và ctv, 2017). Ở giai đoạn này âu trùng có chiều đài là 0,42 mm, phần đầu là 0,10 mm và chiều rộng là 0,10 mm (Pezzini va ctv, 2017). - Au trùng tuôi 2: Phần đầu có dang hình cầu, rộng gần gấp đôi so với phần đầu giai đoạn ấu trùng tuổi 1, râu ngắn có thé nhìn thay với các đám lông thưa ở vùng phía trước của phần đầu (Pezzini và ctv, 2017).
Kích thước của ấu trùng ở giai đoạn này lớn hơn kích thước giai đoạn ấu trùng tuổi 1 với chiều dai là 0,92 mm, phan dau là 0,18 mm, chiều rộng là 0,36 mm. Với sự gia tăng kích thước cơ thể ấu trùng, ruột chiếm thẻ tích ngày càng tăng, chiếm tới một phan ba kích thước của cơ thê (Pezzini va ctv, 2017). - Au trùng tuổi 3: Phan đầu có dang hình cầu lớn gần gấp 2,5 lần so với phan đầu giai đoạn ấu trùng tuổi 1, râu ngắn có thé nhìn thấy với các đám lông thưa ở vùng phía trước của phần đầu. Ngực và bụng với các đám lông ngắn, dày đặc và đễ nhìn thấy trên tất cả các bề mặt.
Với chiều dài tổng thể là 1,52 mm; phần đầu là 0,24 mm và chiều rộng tông thể là 0,62 mm (Pezzini và ctv, 2017). - Au trùng tuôi 4: Phan đầu có dạng hình cau lớn gần gấp 3 lần so với phần đầu giai đoạn ấu trùng tuổi 1, râu ngắn có thể nhìn thay với đám lông thưa ở vùng phía trước phan dau, ấu trùng ở giai đoạn này có chiều dai là 2,64 mm, phan dau là 0,29 mm và chiều rộng là 0,95 mm. Các lớp lông ngắn và dày đặc trên tất cả các bề mặt lưng ngực và bụng dai hơn 3 lần so với các lớp màng, mặt bụng nhẫn không có lông tơ (Pezzini và ctv, 2017). Nhộng: Gồm hai giai đoạn chính là tiền nhộng và nhộng - Tiền nhộng: Au trùng của ong B.
hebetor đã sử dụng gần như tat cả các chất dinh dưỡng của ấu trùng ký chủ và tự rời xa ký chủ đề bắt đầu hình thành kén, nha tơ tạo thành một lớp day bao bọc cơ thé ấu trùng (Pezzini va ctv, 2017). Kén được hình thành hoàn chỉnh có hình bầu dục, có màu trắng nhạt và không di chuyền (Pezzini và ctv, 2017). Với sự kết nối của ruột giữa và ruột sau, có sự đào thải phân bám vào kén làm cho ruột trong mờ. Ở giai đoạn này, phần đầu được tách biệt rõ ràng với phần còn lại của cơ thé, râu đầu ngắn có thé nhìn thấy với đám lông thưa ở phía trước của phần đầu.
Phần lưng ngực và mặt trên bụng với các đám lông ngắn và dày đặc trên tất cả các bề mặt, và mặt bụng dưới nhẫn không có rãnh (Pezzini và ctv, 2017). Kén có chiều đải là 2,90 mm, kích thước phan đầu là 0,38 mm, chiều rộng là 0,84 mm. Vào cuối giai đoạn 5 này, các mat được tông hợp và ba mat đơn xuât hiện ở lưng và có màu nâu đỏ (Pezzini và ctv, 2017). - Nhộng: Ở giai đoạn này có thé phân biệt nhộng đực va cái, nhộng cái sở hữu râu đầu cong xuống ngực gồm 13 đốt có kích thước bằng nhau, có chiều rộng hơn chiều dai 1,5 lần, chứa một vòng 8 gai ở mỗi đốt, lồng ngực có cấu trúc cánh gấp ngang về phía ngực, chân phát triển sát thân, bụng có chín đốt, vòi trứng cong lên ở phía sau bụng.
Nhộng đực sở hữu râu đầu có tat cả 20 đốt, kích thước bằng nhau, chiều rộng lớn bằng chiều dai, với một vòng 8 gai ở mỗi đốt, không có ống đẻ trứng (Pezzini và ctv, 2017). Bung, ống đẻ trứng và râu là những phan cuối cùng của cơ thé có sự chuyền đổi màu sắc, bụng có màu vàng nâu và các phần khác có màu nâu (Pezzini và ctv, 2017). Để phân biệt nhộng đực và nhộng cái còn có thé dựa vào chiều đài và chiều rộng của nhộng. Nhộng đực có chiều đài là 2,50 mm và chiều rộng là 0,76 mm, nhộng cái có chiều dai ngắn hơn là 2,46 mm và chiều rộng rộng hơn là 0,94 mm (Pezzini và ctv, 2017).3 Các giai đoạn phát triển của ong B.
hebetor (Nguồn: Pezzini và ctv, 2017) A: Trứng ngay sau khi đẻ; B: Trứng sau 12 giờ; C: Au trùng tuổi 1; D: Au trùng tuổi 2; E: Au trùng tuổi 3; F: Au trùng tuổi 4; G: Nhộng. Thước đo: (A - C): 0,25 mm, (D-G): 0,5 mm.4 Các giai đoạn phát triển của nhộng Ö. A: Tiền nhộng; B: Nhộng giai đoạn 1; C: Nhộng giai đoạn 2; D:Nhộng giai đoạn cuối Thước đo: 0,5 mm Trưởng thành (Thanh trùng): Con trưởng thành phá kén bằng ham, trồi lên sau đó chui ra khỏi kén và để lại kén (Pezzini và ctv, 2017). Những con thành trùng cái thường lớn hơn và có ống đẻ trứng nối bật trong khi những con thành trùng đực có kích thước nhỏ hơn và không có ống đẻ trứng.
Râu của cả thành trùng đực và thành trùng cái đều có dạng sợi. Thành trùng cái sở hữu 13 đốt râu đầu trong khi thành trùng đực có 20 đốt. Kích thước của thành trùng ong B. hebetor đực và cái khác nhau đáng kế dựa vào chiều đài và sải cánh của thành trùng (Nivedita và ctv, 2021).3 Đặc điểm sinh hoc của ong B.1 Thời gian phát triển các pha và vòng đời của ong B.
hebetor Trứng: Thời gian phát triển giai đoạn trứng của ong B. hebetor ký sinh trên các loài ký chủ khác nhau có sự khác biệt rõ rệt trong điều kiện phòng thí nghiệm với nhiệt độ 27°C được báo cáo cao nhất là 1,68 ngày trên Spodoptera litura, tiếp đến là 1,63 ngày Earias vittella, 1,43 ngày trên Helicoverpa armigera, 1,28 ngày trên Maruca testutalis, 1,12 ngày trên Galleria mellonella và thấp nhất là trên Corcyra cephalonica 0,9 ngày (Dabhi và ctv, 2012). Theo Magro và ctv (2006), thời gian phát triển giai đoạn trứng của ong B. hebetor trong điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25 + 2°C, am độ 70 + 10% trên ký chủ Anagasta kuehniella được xác định là 1,5 + 0,01 ngày.
Thời gian phát tiên giai đoạn trứng của ong B. hebefor ky sinh trên 5 loại ký chủ Plodia interpunctella; Ephestia kuehniella; Ectomyelois ceratoniae và Malacosoma disstria được Saadat va ctv (2014) ghi nhan lần lượt là 1,89 + 0,007 ngày; 2,35 + 0,031 ngày; 2,24 + 0,047 ngày: 2,71 + 0,031 ngày và 2,73 + 0,047 ngày. Au trùng: Theo Magro và ctv (2006), thời gian phát triển giai đoạn ấu trùng của ong B. hebefor được xác định trên ky chủ Anagasta kuehniella 6 điều kiện nhiệt độ 25 + 2°C, âm độ 70 + 10% là 4,8 + 0,10 ngày.
Thời gian phát triển giai đoạn ấu trùng của ong Ö. hebetor ký sinh trên 5 loại ky chủ Plodia interpunctella; Ephestia kuehniella; Ectomyelois ceratoniae và Malacosoma disstria lần lượt là 5,25 + 0,079 ngày; 5,55 + 0,069 ngày; 5,63 + 0,059 ngày; 5,68 + 0,041 ngày và 6,28 + 0,039 ngày (Saddat và ctv, 2014). Nhộng: Giai đoạn nhộng được xác định trong điều kiện nhiệt độ 25 + 2°C, âm độ 70 + 10% trên ký chủ A. kuehniella có thời gian phát triển là 5,4 + 0,04 ngày (Magro va ctv, 2006).
Thời gian phát triển giai đoạn nhộng của ong Ö. hebetor cũng được Saadat cùng ctv (2014) ghi nhận trên 5 loài ky chủ P. disstria lần lượt là 5,60 + 0,04 ngày; 6,02 + 0,015 ngày; 6,59 + 0,015 ngày; 7,36 + 0,063 ngày và 7,68 + 0,015 ngày. Vòng đời: Thời gian hoàn thành vòng đời của ong B.
hebefor trên các loài ký chủ khác nhau biến động từ 5,06 ngày đối với thành trùng đực trên Spodoptera litura và trên C. cephalonica là 31,76 ngày đôi với thành trùng cái (Dabhi va ctv, 2012). Farag va ctv (2015) đã bao cáo rằng thời gian phat triển của ong B. hebetor ngắn nhất khi ký sinh trên ấu trùng sâu sáp G.
mellonella là 9,42 ngày, dài nhất trên ấu trùng C. cephalonica là 11 ngay và trên au trùng E. cautella là 10,47 ngày (Farag va ctv, 2015). Vòng đời của ong B.
hebetor ký sinh trên ấu trùng A. kuehniella ở nhiệt độ 25 + 2°C, âm độ 70 + 10% được xác định là 11 + 0,82 ngày (Magro va ctv, 2006).