Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Tổng quan các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết. - Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam. - Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế sự biến động bất thường của giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của luận văn là một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng, nhưng dường như rất hiếm nghiên cứu tương tự trên giá cổ phiếu ngân hàng, nhất là tại Việt Nam.
Một số lí do có thể kể đến như: số lượng các NHTMCP niêm yết trên các SGDCK quá ít so với tổng số các ngân hàng hiện có, thời gian nghiên cứu lịch sử giá cổ phiếu không đủ dài để tăng độ tin cậy trong các nghiên cứu định lượng, chưa có chỉ số chứng khoán xây dựng cho riêng ngành ngân hàng nên không thể sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu trên dữ liệu chuỗi thời gian. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nghiên cứu trong luận văn sẽ lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu bảng học hỏi từ mô hình nghiên cứu của Adaramola, A. Olugbenga (2011) thay vì nghiên cứu trên dữ liệu chuỗi thời gian như các nghiên cứu đã có trước đây. Bên cạnh đó, việc xác định các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này sẽ giúp các cơ quan quản lý cũng như các NHTMCP nhận diện các rủi ro có thể có đối với sự tăng trưởng giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam; từ đó sử dụng các giải pháp phù hợp để hạn chế tác động tiêu cực từ các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết.
Đây là những tiền đề cần thiết để quá trình niêm yết cổ phiếu của tất cả các NHTMCP Việt Nam được triển khai sớm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT Giới thiệu chương 2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam bắt đầu bằng việc xem lại nền tảng lý thuyết về giá cổ phiếu, về NHTMCP niêm yết, về các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết. Kế đến, lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định một số nhân tố kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các NHTMCP niêm yết Việt Nam. Việc rà soát lại các kết quả có trước giúp nhận ra khe hổng của các nghiên cứu khi xét tại thị trường Việt Nam, từ đó đúc kết được những nhân tố kinh tế vĩ mô cần thiết, bổ sung hoặc bỏ bớt những nhân tố kinh tế vĩ mô so với các nghiên cứu đã có.1 Tổng quan về giá cổ phiếu 2.1 Khái niệm cổ phiếu Khái niệm cổ phiếu gắn liền với khái niệm công ty cổ phần.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Giấy xác nhận quyền sở hữu cổ phần của cổ đông được gọi là cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần.
Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần tỉ lệ với số cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ. Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ngày nay khái niệm cổ phiếu được hiểu rộng hơn, đó là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.2 Các hình thức giá trị của cổ phiếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dựa vào quyền lợi của cổ đông, cổ phiếu được chia thành hai loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
Các hình thức giá trị của cổ phiếu thường ở một công ty cổ phần: - Mệnh giá hay còn gọi là giá trị danh nghĩa, là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu, thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra, có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu lần đầu nhằm huy động vốn thành lập công ty. Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách kế toán của công ty, không có giá trị đối với các nhà đầu tư mua cổ phiếu đó trên thị trường thứ cấp. Một số nước luật pháp cho phép công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường không có mệnh giá. - Giá trị sổ sách là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của công ty.
Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. Trường hợp công ty có phát hành cổ phiếu thường lẫn cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành. Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn đã góp ban đầu. - Giá trị nội tại là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường.
Trong lĩnh vực tài chính, người ta xem giá trị nội tại của cổ phiếu chính là hiện giá (present value) của tất cả thu nhập từ cổ phiếu trong tương lai theo một lãi suất chiết khấu nào đó. Lãi suất chiết khấu này chính là tỉ suất sinh lợi kỳ vọng của mỗi nhà đầu tư. Vì lẽ đó, giá trị nội tại của cổ phiếu không thể tính toán chính xác. Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư với những dự đoán, những kỳ vọng khác nhau sẽ có riêng những giá trị nội tại khác nhau.
Đây là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư quyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 định giao dịch sau khi so sánh giá trị nội tại với giá thị trường của cổ phiếu. - Giá thị trường là giá giao dịch trên thị trường ở thời điểm hiện tại của cổ phiếu, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường. Giá thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố: những yếu tố bên trong như lợi nhuận công ty, cổ tức hay dòng thu nhập trong tương lai của nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu, kể cả những thông tin về thay đổi nhân sự cấp cao, thông tin về đối thủ cạnh tranh.; những yếu tố bên ngoài như các thông tin kinh tế vĩ mô và đôi khi là những thông tin phi kinh tế như thiên tai, chiến tranh.
Giá thị trường của cổ phiếu vì lẽ đó mà thường xuyên biến động.2 Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Theo từ điển Quản trị và kinh doanh Oxford (2016), ngân hàng thương mại là một tổ chức cung cấp rộng rãi các dịch vụ tài chính cho công chúng và các công ty. Những hoạt động chính của một ngân hàng thương mại là điều hành những tài khoản giao dịch vãng lai, nhận tiền gởi, cho vay, chấp nhận và chi trả các loại giấy tờ có giá. Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ cũng định nghĩa lại: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”.
Ở đây, hoạt động ngân hàng được định nghĩa trong Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”. Như vậy, qua các khái niệm về NHTM được đề cập đến ở trên, có thể thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nhất một số điểm về khái niệm NHTM: đó là một loại hình doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận, nguồn vốn sử dụng kinh doanh chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài, lĩnh vực kinh doanh của NHTM là tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng. NHTMCP là NHTM hoạt động như một công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. NHTMCP niêm yết là NHTMCP có cổ phiếu được đăng ký và giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung.