Tổng quan luận án

Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) giữ vai trò là cái nôi hình thành dân tộc và là cội nguồn của ba nền văn hóa lớn trong lịch sử văn minh Việt Nam: văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam, gắn liền với các trung tâm Bạch Hạc, Cổ Loa, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Đồng thời, ĐBSH cũng là địa bàn tiếp nhận Phật giáo sớm nhất ở nước ta với trung tâm Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) hình thành từ thế kỷ II - III. Trải qua các thời kỳ lịch sử Lý, Trần, Lê cho đến nay, Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã hòa quyện chặt chẽ với tín ngưỡng bản địa, ăn sâu vào tâm thức và chi phối sâu sắc đời sống tinh thần của cư dân địa phương.

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đời sống tinh thần của cư dân vùng ĐBSH có những bước chuyển mình mạnh mẽ, người dân được thụ hưởng nhiều thành tựu vật chất và tinh thần thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng bộc lộ những thách thức lớn: lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, xu hướng sống nhanh, sống gấp làm suy giảm các giá trị văn hóa truyền thống, cùng sự gia tăng của các vụ vi phạm pháp luật, tham nhũng và suy thoái đạo đức. Nhằm giải quyết thực trạng này, việc nghiên cứu, khai thác các giá trị nhân văn, hướng thiện trong nhân sinh quan Phật giáo, đồng thời nhận diện và khắc phục các biểu hiện tiêu cực là một yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo và đời sống tinh thần, song phần lớn mới tiếp cận ở phạm vi toàn quốc, khảo cứu trong lịch sử hoặc chỉ phân tích từng khía cạnh đạo đức, nghệ thuật đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về tác động hai mặt của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của cư dân ĐBSH trong giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến năm 2015.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nhân sinh quan Phật giáo, nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH và đời sống tinh thần của cư dân trong vùng, luận án phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy các ảnh hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ nội dung của nhân sinh quan Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH nói riêng, cùng với đời sống tinh thần của cư dân ĐBSH hiện nay.
  2. Phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay trên các lĩnh vực đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật và chỉ ra những vấn đề đặt ra.
  3. Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của cư dân vùng ĐBSH hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung vào 5 tỉnh, thành phố tiêu biểu có mật độ dân cư đông và nhiều sinh hoạt Phật giáo tại ĐBSH gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định; tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu của đời sống tinh thần là đạo đức, lối sống và văn hóa nghệ thuật.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát từ mốc khởi đầu công cuộc Đổi mới (năm 1986) đến năm 2015, đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn từ năm 1990 khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24 về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới".
  • Đối tượng khảo sát: Gồm 2 nhóm đối tượng sinh sống, học tập và làm việc tại 5 địa phương trên:
    1. Nhóm cư dân không phải là nhà tu hành Phật giáo (bao gồm cả tín đồ Phật tử và người không theo đạo, phân theo ngành nghề và độ tuổi).
    2. Nhóm các nhà tu hành Phật giáo (tăng ni).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành phân loại và tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm công trình chủ yếu:

Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo

  • Phan Văn Hùm (1943) trong tác phẩm Phật giáo Triết học (Nxb Tân Việt) phân tích các nguyên lý Phật giáo nguyên thủy, Ngũ uẩn, Nghiệp, Thiền định, Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên, chỉ ra sự khác biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa.
  • Đại Đức Narada Maha Thera, do Phạm Kim Khánh dịch (1989), cuốn Đức Phật và Phật pháp (Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh) đi sâu luận giải Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Niết bàn, nghiệp báo và Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỉ, Xả).
  • Tưởng Duy Kiều, Thích Đạo Quang dịch (1957), tác phẩm Đại cương triết học Phật giáo (Nxb Thuận Hóa - Huế) tiếp cận trực diện từng vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan.
  • Kimura Taiken, Thích Quảng Độ dịch (1969), tác phẩm Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (Nxb Khuông Việt - Sài Gòn) phân tích quá trình hình thành tư tưởng Đại thừa, đối sánh với Phật giáo nguyên thủy để khẳng định giá trị cuộc đời và lẽ sống của con người theo con đường trung đạo.
  • Walpola Rahula, Thích nữ Trí Hải dịch (1971), tác phẩm Tư tưởng Phật học (con đường thoát khổ) (Nxb Tu thư Đại học Vạn Hạnh) phân tích bản chất thực tiễn của Tứ diệu đế.
  • Thích Thanh Kiểm (1989) trong Lược sử Phật giáo Ấn Độ (Nxb Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh) phân tích Tứ đế, 12 nhân duyên, chỉ ra quan niệm về Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn.
  • Lâm Thế Mẫn, Linh Chi dịch (1996), Tinh thần và nét đặc sắc của Phật giáo (Nxb Mũi Cà Mau) nhấn mạnh quan niệm nhân sinh Phật giáo giúp con người vươn lên, làm trong sạch tâm tính xã hội.
  • Thích Tâm Thiện (1998) trong Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo (Nxb TP. Hồ Chí Minh) lấy nguyên lý Duyên sinh - Vô ngã làm trọng tâm nghiên cứu.
  • Nguyễn Hùng Hậu (2002) với Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV (Nxb Khoa học xã hội) phân tích cấu tạo con người, Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên và Bát chính đạo, bác bỏ quan niệm cho rằng Phật giáo thuần túy bi quan, yếm thế.
  • Trần Trọng Kim (2002, tái bản từ các bài thuyết giảng 1935-1936 tại chùa Quán Sứ) trong Phật giáo trong ba bài diễn thuyết (Nxb Đà Nẵng) phân tích Tứ thánh đế, Thập nhị nhân duyên, Ngũ giới và Lục độ.
  • Viên Trí (2006) trong Ấn Độ Phật giáo sử luận (Nxb Phương Đông) tiếp cận Vô ngã, Duyên khởi, Ngũ uẩn, Nghiệp dưới góc độ lịch sử tư tưởng.
  • Junjiro Takakusu, Tuệ Sỹ dịch (2007), Tinh hoa triết học Phật giáo (Nxb Phương Đông) chỉ ra 6 nguyên lý nền tảng: Duyên khởi, Tất định và bất định, Tương dung, Như thực, Viên dung và Niết bàn.
  • Đức Dalai Lama 14 và Jean Claude Carriere, Lê Việt Liên dịch (2008), Sức mạnh của đạo Phật (Nxb Phương Đông) phục dựng các giá trị vô thường, vô ngã, bình đẳng, từ bi trong bối cảnh xã hội hiện đại.
  • Nguyễn Thị Toan (2010) với chuyên khảo Giải thoát luận Phật giáo (Nxb Chính trị quốc gia) và bài viết Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo (Tạp chí Triết học, số 3/2006) phân tích phạm trù giải thoát và Niết bàn qua Tứ diệu đế.
  • Cùng nhiều bài báo chuyên ngành của Hoàng Thị Thơ (1993), Lê Văn Quán (1998), Tạ Chí Hồng (2000), và các công trình của Daisetz Teitaro Suzuki, K. Sri Dhammananda, Thích Thông Lạc, Andrew Skilton, D. Kalupahana.

Nhóm các công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần

  • Phùng Đông (1997) trong bài viết trên Tạp chí Triết học phân tích vị trí của phạm trù đời sống tinh thần xã hội qua sự kết hợp ba góc độ: nhận thức luận, bản thể luận và xã hội học.
  • Vi Quang Thọ (1998) trong cuốn Đời sống tinh thần của cá nhân, khái niệm và nguyên tắc nghiên cứu (Nxb Khoa học xã hội) làm rõ cấu trúc đời sống tinh thần cá nhân gồm mục đích, giá trị, lý tưởng, giao tiếp và tự hoàn thiện đạo đức.
  • Trần Khắc Việt (1999) với luận án phó tiến sĩ Triết học Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phân tích các quy luật vận động và nhân tố tác động đến đời sống tinh thần xã hội.
  • Đào Duy Thanh (1999) với luận án tiến sĩ Thẩm mỹ học Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người.
  • Trần Thanh Nam (2001) với luận án tiến sĩ Triết học Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay.
  • Trần Chí Mỹ (2002) với luận án tiến sĩ Triết học Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Nhóm các công trình về ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần ở Việt Nam

  • Nguyễn Tài Thư chủ biên (1988) trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội) và Đề tài cấp Nhà nước KX 07-03 (1995) Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay.
  • Lê Cung (1996) với Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc (Nxb Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh) làm rõ tư tưởng bất bạo động và tinh thần nhập thế qua các thời kỳ lịch sử.
  • Nguyễn Đăng Duy (1999) trong Phật giáo với văn hóa Việt Nam (Nxb Hà Nội) phân tích sự dung hợp của Phật giáo với văn hóa nông nghiệp lúa nước.
  • Lê Hữu Tuấn (1999) với luận án tiến sĩ Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam.
  • Nguyễn Lang (2000) với bộ sách 3 tập Việt Nam Phật giáo sử luận (Nxb Văn học) và Thích Mật Thể (2004) trong Việt Nam Phật giáo sử lược (Nxb Tôn giáo).
  • Tạ Chí Hồng (2004) với luận án tiến sĩ Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay.
  • Đặng Thị Lan (2006) trong cuốn Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam (Nxb ĐHQG Hà Nội).
  • Lê Văn Lợi (2008) với luận án tiến sĩ Ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay.
  • Nguyễn Duy Hinh với các công trình Tư tưởng Phật giáo Việt Nam (1999), Triết học Phật giáo Việt Nam (2006), Lịch sử đạo Phật Việt Nam (2009) và tuyển tập do Lê Đức Hạnh biên soạn (2010) Phật giáo trong văn hóa Việt Nam.
  • Ngô Thị Lan Anh (2011) với luận án tiến sĩ Ảnh hưởng của "Tâm" trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các thành tựu lý luận và tư liệu lịch sử của các học giả đi trước, đồng thời tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu về thực trạng tác động đa chiều của nhân sinh quan Phật giáo tại một địa bàn cụ thể là vùng ĐBSH trong giai đoạn từ 1986 đến năm 2015, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm điều chỉnh và định hướng đời sống tinh thần của cư dân khu vực này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đời sống tinh thần, tôn giáo và tín ngưỡng, đặc biệt là quan điểm trong Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị (1990) về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
  • Hệ thống kinh điển Phật giáo nguyên thủy và Đại thừa như Kinh Tăng chi bộ, Kinh Trường A hàm, Kinh Tương Ưng, Lục độ tập kinh.
  • Các khái niệm và phạm trù triết học cốt lõi được sử dụng:
    • Cấu tạo con người: thuyết Ngũ uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức), thuyết Danh - Sắc, thuyết Lục đại.
    • Thân thể và sự vận động: tính Vô thường, Vô ngã, quy luật "Sinh - Trụ - Dị - Diệt" hoặc "Thành - Trụ - Hoại - Không", khái niệm thời gian "Satna", Tứ đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) và Thất tình (Hỉ, Nộ, Ai, Lạc, Ái, Ố, Dục).
    • Sự xuất hiện và tồn tại của con người: thuyết Nghiệp (Karma - gồm Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp), Nghiệp báo, Lục đạo luân hồi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Atula, Người, Trời).
    • Bản chất nỗi khổ: thuyết Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế); các dạng phân loại khổ gồm Nhị khổ (Nội khổ, Ngoại khổ), Tam khổ (Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ), Tứ khổ (Sinh, Lão, Bệnh, Tử), Ngũ khổ và Bát khổ (Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Ái biệt ly, Oán tăng hội, Cầu bất đắc, Ngũ thụ uẩn).
    • Nguyên nhân nỗi khổ: Thập kết sử (Tham lam, Giận dữ, Si mê, Kiêu ngạo, Nghi ngờ, Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ); Tam độc (Tham, Sân, Si); Vô minh; Thuyết Thập nhị nhân duyên theo trật tự 12 mắt xích: Vô minh -> Hành -> Thức -> Danh sắc -> Lục nhập -> Xúc -> Thụ -> Ái -> Thủ -> Hữu -> Sinh -> Lão tử.
    • Giải thoát và Niết bàn: Niết bàn (Nirvana = Nir + Vana) gồm Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn; Con đường Trung đạo thông qua Bát chính đạo (Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tấn, Chính niệm, Chính định); Tam học gồm Giới (Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh), Định (Chính tinh tấn, Chính định), Tuệ (Chính tư duy, Chính kiến, Chính niệm); Các chuẩn mực đạo đức: Ngũ giới, Lục hòa (Thân hòa đồng trụ, Khẩu hòa vô tranh, Ý hòa đồng duyệt, Ý hòa đồng tu, Lợi hòa đồng quân...), Lục độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ), Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỉ, Xả).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận chung: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Vận dụng tri thức của Tôn giáo học, Văn hóa học, Sử học, Dân tộc học.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê: Thực hiện khảo sát thực tế trên 2 nhóm đối tượng (cư dân/Phật tử và nhà tu hành) tại 5 tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH để thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn.

Nguồn tư liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị về công tác tôn giáo, tư tưởng, văn hóa.
  • Kinh điển Phật giáo và các công trình nghiên cứu Phật học trong và ngoài nước.
  • Báo cáo định kỳ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) và cơ quan quản lý tôn giáo tại các địa phương: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định.
  • Dữ liệu khảo sát xã hội học do nghiên cứu sinh trực tiếp triển khai trong quá trình làm luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích toàn diện các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:

  1. Nhóm nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo trong triết học và tôn giáo học (các công trình của Phan Văn Hùm, Narada Maha Thera, Kimura Taiken, Walpola Rahula, Nguyễn Hùng Hậu, Nguyễn Thị Toan...).
  2. Nhóm nghiên cứu về lý luận đời sống tinh thần xã hội và đời sống tinh thần cá nhân (các công trình của Phùng Đông, Vi Quang Thọ, Trần Khắc Việt, Đào Duy Thanh, Trần Chí Mỹ...).
  3. Nhóm nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo và văn hóa Phật giáo đối với đời sống văn hóa, đạo đức tại Việt Nam (các công trình của Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Lang, Thích Mật Thể, Tạ Chí Hồng, Đặng Thị Lan, Lê Văn Lợi, Ngô Thị Lan Anh...).

Từ việc phân tích tổng quan, tác giả chỉ ra những giá trị khoa học đã đạt được và xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận án cần tiếp tục làm rõ: nghiên cứu chuyên biệt nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH, đánh giá thực trạng ảnh hưởng đồng thời cả mặt tích cực và mặt tiêu cực đến 3 lĩnh vực (đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật) của cư dân ĐBSH từ năm 1986 đến 2015, và đề xuất các giải pháp khả thi trong điều kiện kinh tế thị trường.

Chương 2: Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay: Một số vấn đề lý luận

Chương 2 tập trung xây dựng khung lý luận cho đề tài qua các nội dung:

  • Phân tích nội hàm nhân sinh quan Phật giáo: làm rõ quan niệm về con người (thuyết Ngũ uẩn, tính vô ngã, vô thường, phủ nhận thuyết Thượng đế sáng tạo qua đoạn đối thoại của Đức Phật với Bà Tất Tra trong Kinh Trường A hàm); lý giải sự xuất hiện con người qua thuyết Nghiệp (Karma) và Luân hồi trong Lục đạo; phân tích bản chất cuộc đời là khổ và nguồn gốc nỗi khổ từ Vô minh, Ái dục, Tam độc (Tham, Sân, Si) và Thập nhị nhân duyên; xác lập con đường giải thoát hướng đến Niết bàn qua Bát chính đạo, Tam học (Giới - Định - Tuệ) và tu dưỡng Tứ vô lượng tâm.
  • Làm rõ đặc trưng nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH: Phân tích lịch sử du nhập từ đầu Công nguyên qua trung tâm Luy Lâu (Bắc Ninh) với dòng chảy Phật giáo Đại thừa; sự dung hợp giữa giáo lý Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa, Nho giáo và Đạo giáo, tạo nên hiện tượng "Phật giáo dân gian" mang đậm tinh thần yêu nước và gắn kết cộng đồng làng xã; tư tưởng của Khương Tăng Hội, các Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Trúc Lâm Yên Tử và kinh điển Lục độ tập kinh.
  • Xác định cấu trúc đời sống tinh thần của cư dân ĐBSH hiện nay và phân tích các nhân tố tác động: sự phát triển của kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xu thế hội nhập toàn cầu, sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông thông tin (internet, truyền hình, điện thoại di động) và chính sách đổi mới tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Chương 3: Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trên địa bàn khảo sát (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định) qua hai mặt tích cực và tiêu cực:

  • Về đạo đức:
    • Tích cực: Tinh thần từ bi, hỉ xả, khuyến thiện trừ ác, hiếu nghĩa, bao dung và tôn trọng sự sống đã góp phần nuôi dưỡng lương tâm, củng cố đạo đức truyền thống của cư dân ĐBSH, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái trong các phong trào thiện nguyện, nhân đạo xã hội.
    • Tiêu cực và hạn chế: Quan niệm nghiệp báo luân hồi bị một bộ phận cư dân hiểu sai lệch thành thuyết định mệnh, dẫn đến tâm lý an phận, cam chịu, thiếu ý chí đấu tranh chống tiêu cực xã hội.
  • Về lối sống:
    • Tích cực: Cổ vũ lối sống cần kiệm, giản dị, hòa hợp với thiên nhiên và cộng đồng, giảm bớt thói tham lam vụ lợi trong nền kinh tế thị trường; phong trào ăn chay, ngồi thiền rèn luyện sức khỏe và tu tâm dưỡng tính ngày càng lan tỏa.
    • Tiêu cực: Xuất hiện lối sống thụ động, lánh đời, hoặc ngược lại là sự biến tướng thực hành tín ngưỡng theo hướng thực dụng, "buôn thần bán thánh", cầu xin danh lợi vật chất tại chốn thờ tự.
  • Về văn hóa nghệ thuật:
    • Tích cực: Ảnh hưởng sâu đậm đến kiến trúc chùa chiền vùng đồng bằng Bắc Bộ, nghệ thuật điêu khắc tượng Phật, hội họa, văn học dân gian, âm nhạc và các lễ hội truyền thống (như hội Dâu, hội chùa Hương...), làm phong phú đời sống tâm linh cư dân.
    • Tiêu cực: Tình trạng thương mại hóa lễ hội, đốt vàng mã tràn lan gây lãng phí, sự pha tạp các yếu tố mê tín dị đoan làm sai lệch giá trị văn hóa Phật giáo truyền thống.
  • Những vấn đề đặt ra: Sự suy thoái đạo đức xã hội do mặt trái kinh tế thị trường; sự thiếu hụt kiến thức Phật học chính thống ở một bộ phận Phật tử; tình trạng lợi dụng Phật giáo để trục lợi và hoạt động mê tín dị đoan; yêu cầu tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trong vùng.

Chương 4: Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay

Chương 4 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp thực hiện:

  • Hệ thống quan điểm chỉ đạo:
    1. Đổi mới nhận thức về vai trò của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng đối với đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay.
    2. Phát huy ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo ở ĐBSH hiện nay phải gắn liền với khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, gắn liền xây với chống nhằm xây dựng đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh cho cư dân trong vùng.
    3. Phát huy ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo phải gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSH hiện nay.
  • Bốn nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội ở ĐBSH hiện nay thuận lợi để phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo.
    2. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục giúp cho cư dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay nhận thức đúng giá trị cũng như hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo.
    3. Khuyến khích, lôi cuốn tăng ni, Phật tử trong vùng tham dự vào các hoạt động xã hội nhân đạo, từ thiện nhằm phát huy truyền thống nhập thế tích cực của nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH.
    4. Đấu tranh chống những hành vi lợi dụng Phật giáo gây ảnh hưởng xấu đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ những nội dung cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo nói chung và đặc điểm riêng biệt của nhân sinh quan Phật giáo vùng ĐBSH (tính dung hợp tín ngưỡng dân gian, tinh thần nhập thế, gắn bó với vận mệnh dân tộc và cộng đồng làng xã). Đồng thời, luận án làm rõ cơ chế tác động biện chứng của nhân sinh quan tôn giáo đối với các hình thái ý thức xã hội và các lĩnh vực cụ thể của đời sống tinh thần (đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật) trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, khách quan về ảnh hưởng hai mặt (tích cực và tiêu cực) của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần cư dân ĐBSH từ năm 1986 đến năm 2015. Luận án luận giải những vấn đề nảy sinh trong thực tế quản lý văn hóa - tôn giáo và đề xuất 3 quan điểm chỉ đạo cùng 4 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng thực tế cho các cấp chính quyền và các tổ chức tôn giáo nhằm lành mạnh hóa môi trường văn hóa tinh thần tại khu vực ĐBSH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu tập trung vào 5 tỉnh, thành phố đại diện thuộc vùng ĐBSH (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định) và giới hạn trong 3 lĩnh vực chủ yếu (đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật), các phân tích chưa bao quát toàn bộ 11 tỉnh/thành phố của toàn vùng cũng như chưa đi sâu vào các lĩnh vực tinh thần khác như ý thức chính trị - pháp quyền.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát xã hội học ra toàn bộ các địa bàn còn lại của vùng ĐBSH hoặc so sánh với các vùng văn hóa khác như đồng bằng sông Cửu Long hay miền Trung.
    • Nghiên cứu chuyên sâu tác động của truyền thông số và mạng xã hội đối với sự biến đổi sinh hoạt Phật giáo và nhân sinh quan của giới trẻ hiện nay.
    • Đánh giá tác động của nhân sinh quan Phật giáo đối với việc xây dựng đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp tại vùng ĐBSH.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy các môn học thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn như: Triết học, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Tôn giáo học, Văn hóa học, Đạo đức học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành đoàn thể: Kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác tham mưu, hoạch định chính sách tôn giáo, quản lý di tích, tổ chức lễ hội và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại các tỉnh vùng ĐBSH.
  • Đối với các tổ chức Giáo hội Phật giáo: Cung cấp góc nhìn khách quan để định hướng công tác hoằng pháp, phát huy truyền thống "hộ quốc an dân", đẩy mạnh các hoạt động từ thiện - xã hội và khắc phục những biểu hiện mê tín dị đoan trong cộng đồng Phật tử.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân tích cấu tạo con người theo nhân sinh quan Phật giáo gồm những yếu tố nào?

Theo luận án, nhân sinh quan Phật giáo lý giải cấu tạo con người qua thuyết Ngũ uẩn, bao gồm sự kết hợp động của 5 yếu tố: Sắc uẩn (thể xác vật chất do tứ đại đất, nước, lửa, gió tạo thành), Thụ uẩn (cảm giác, tình cảm), Tưởng uẩn (tri giác, biểu tượng, ký ức), Hành uẩn (ý chí, động lực tinh thần) và Thức uẩn (ý thức, sự phân biệt). Do sự kết hợp này luôn biến đổi vô thường nên con người là "vô ngã", không tồn tại một "cái tôi" độc lập, bất biến hay do đấng siêu nhiên tạo ra.

2. Nguyên nhân gốc rễ của nỗi khổ trong cuộc đời con người theo luận án được Phật giáo lý giải ra sao?

Luận án trình bày nguyên nhân nỗi khổ của con người bắt nguồn từ Vô minh (sự mê lầm, không thấu hiểu lẽ vô thường, vô ngã) và Ái dục (lòng đam mê, khát khao bám víu sự sống). Từ vô minh và ái dục làm nảy sinh Tam độc (Tham, Sân, Si) cùng Thập kết sử, chi phối qua chuỗi 12 mắt xích của Thập nhị nhân duyên, đẩy con người vào vòng luân hồi nghiệp báo bất tận.

3. Con đường giải thoát khỏi đau khổ được nhân sinh quan Phật giáo xác định như thế nào?

Để chấm dứt khổ đau và đạt tới trạng thái Niết bàn (gồm Hữu dư Niết bàn khi còn sống và Vô dư Niết bàn khi viên tịch), Phật giáo chủ trương con đường Trung đạo thông qua Bát chính đạo (Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tấn, Chính niệm, Chính định). Bát chính đạo được khái quát thành Tam học: Giới (chuẩn mực đạo đức), Định (kỷ luật tâm linh), Tuệ (trí tuệ thấu suốt chân như), kết hợp thực hành Ngũ giới, Lục hòa, Lục độ và nuôi dưỡng Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỉ, Xả).

4. Đâu là những biểu hiện tiêu cực từ ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân ĐBSH hiện nay?

Các biểu hiện tiêu cực được luận án chỉ ra gồm: việc hiểu sai thuyết nghiệp báo - luân hồi dẫn đến tư tưởng an phận, cam chịu, thụ động trước bất công; sự xuất hiện của xu hướng "buôn thần bán thánh", cầu xin tài lộc vụ lợi tại các cơ sở thờ tự; tình trạng thương mại hóa lễ hội, đốt vàng mã lãng phí và các hành vi mê tín dị đoan làm sai lệch giá trị nhân văn thuần túy của giáo lý Phật giáo.

5. Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nào nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo?

Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội vùng ĐBSH thuận lợi, lành mạnh.
  2. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn của cư dân về giá trị và hạn chế của giáo lý Phật giáo.
  3. Khuyến khích, thu hút tăng ni và Phật tử tham gia vào các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện, phát huy truyền thống nhập thế.
  4. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, kiên quyết đấu tranh chống các hành vi lợi dụng tôn giáo và mê tín dị đoan.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác động đa chiều của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1986 - 2015. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp khảo sát thực tiễn tại 5 địa phương tiêu biểu, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ thực trạng tích cực và tiêu cực trên các phương diện đạo đức, lối sống, văn hóa nghệ thuật. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc và các giải pháp đồng bộ, phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu, đào tạo học thuật và hoạch định chính sách văn hóa - tôn giáo ở nước ta hiện nay.