chương I cũng đã nói được quan niệm của Phật giáo về nhân sinh. Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích giúp tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Ngoài những công trình nghiên cứu như phân tích ở trên, trong những năm gần đây trên các tạp chí có một số bài viết đề cập đến vấn đề nhân sinh quan Phật giáo nói chung. Hoàng Thị Thơ với bài viết Vấn đề Đại thừa - Tiểu thừa trong Phật giáo [135] đăng trong tạp chí Triết học, số 4 năm 1993 đã đề cập đến những tương đồng và khác biệt căn bản giữa tư tưởng của Đại thừa và Tiểu thừa về Tứ diệu đế.
Tác giả nhận định rằng “Tứ diệu đế là bốn nguyên lý về nhân sinh mà cả Đại thừa và Tiểu thừa đều bảo tồn, song Tiểu thừa phân Tứ đế ra thành hai cấp độ: sự thực “hiện hữu” cần phải khắc phục là Khổ đế và Tập đế; Lý tưởng tương lai cần đạt tới là Diệt đế và Đạo đế. Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, ngược lại chủ chấp nhận tính tương đối của Tứ đế, như là cơ sở khái niệm đầu tiên chuẩn bị cần thiết cho hành trình tới 12 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay giải thoát, và cho rằng chỉ khi vứt bỏ khái niệm, siêu vượt ý thức để đạt tới chân không diện hữu mới thực sự là giải thoát viên mãn” [135, 51-54]. Trong bài Bước đầu tìm hiểu giá trị nhân sinh của Phật giáo [110] của Lê Văn Quán đăng trong tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2 năm 1998, cũng đã trình bày về giá trị của nhân sinh quan Phật giáo thể hiện trong các thuyết vi diệu của nhà Phật như Tứ diệu đế, nhân quả, vô ngã, vô thường. Tác giả cho rằng, “Đối tượng chủ yếu của Phật giáo nghiên cứu là con người, là giá trị nhân sinh” [110, 9].
Tạ Chí Hồng với bài viết Góp phần tìm hiểu khái niệm và quan điểm về Nghiệp của Phật giáo [62] đăng trong tạp chí Triết học, số 2 năm 2000. Tác giả cho rằng, thuyết Nghiệp của đạo Phật là luật nhân quả được áp dụng để nghiên cứu sâu vào đời sống con người. Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa sai về Nghiệp từ đó sẽ dẫn đến hiểu sai nội dung khái niệm. Vì vậy, cần phải có cách hiểu đúng, đầy đủ về khái niệm này để chỉ ra giá trị cũng như hạn chế của thuyết Nghiệp của Phật giáo.
Từ đó, tác giả phân tích nội dung của Nghiệp từ góc độ không gian, thời gian, về ba Nghiệp, về sự vận động của Nghiệp. Tác giả cho rằng, “Thuyết Nghiệp của Phật giáo trước tiên với mục đích là mong muốn ai cũng phải làm thiện. Thuyết Nghiệp dùng để đánh giá đạo đức của hành động và hiển bày cho con người thấy sự nghiêm túc của luật nhân quả” [62, 34]. Năm 2006, Nguyễn Thị Toan với bài viết Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo [148] đăng trong tạp chí Triết học, số 3, bàn đến phạm trù Niết bàn trong nhân sinh quan Phật giáo.
Tác giả cho rằng, Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi khổ đau của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Đánh giá quan niệm của Phật giáo về Niết bàn, tác giả rút ra kết luận: “Khái niệm Niết bàn trong Phật giáo là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ, đem lại một diện mạo mới với sức sống mới cho Phật giáo.
Từ con người cá nhân cô đơn trong lộ trình thăm thẳm tìm về cõi tâm linh bí ẩn tìm giải thoát trong Niết bàn của Tiểu thừa tới con người sống cùng những vui buồn nhân thế của Đại thừa, khái niệm Niết bàn đã trở nên hấp dẫn hơn, thể hiện một triết lý sống nhân bản của tôn giáo - triết học Phật giáo” [148, 50]. Bên cạnh đó, còn có thể kể tên một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này như Những vấn đề cơ bản trong Phật học của Nguyễn Văn Chế; Thanh Hương với Trí tuệ Phật; Cốt tủy của đạo Phật của Daisetz Teitaro Suzuki; Đạo Phật vì cuộc sống con người của Đại trưởng lão - Tiến sỹ K. Sri Dhammananda; Văn hóa 13 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Phật giáo - đường về xứ Phật của Thích Thông Lạc; Vì sao tin Phật của K. Sri Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch; Đại cương lịch sử Phật giáo thế giới của AndrewSkilton, Nguyễn Văn Sáu dịch; Nhân quả Triết lý trung tâm của Phật giáo của D.
Kalupahana, Đồng Loại và Trần Nguyên Trung dịch. Như vậy, ở hướng nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo được nhiều tác giả quan tâm. Mặc dù, bàn nhiều đến nhân sinh quan Phật giáo nhưng lại thiếu những công trình nghiên cứu có hệ thống, đầy đủ, toàn diện. Vì thế, với tham vọng tìm tòi và hoàn thiện, tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu để lấp đi chỗ trống trong các công trình nghiên cứu này.
Các công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần và ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần ở Việt Nam 1. Các công trình nghiên cứu về đời sống tinh thần Trong toàn bộ đời sống xã hội nói chung, đời sống tinh thần có một vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của nó ngày càng gia tăng và thể hiện rõ nét. Đặc biệt, khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng lên CNXH, mở cửa hội nhập với thế giới trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp, đặt ra hàng loạt vấn đề cho việc xây dựng, quản lý đời sống tinh thần của xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu trong nước đi sâu tìm hiểu lý luận cơ bản về lĩnh vực đời sống tinh thần. Do đó, ở nước ta trong những thập niên gần đây, việc nghiên cứu đời sống tinh thần của xã hội trở nên khá sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu.
Năm 1997, Phùng Đông viết bài Vị trí, ý nghĩa của phạm trù đời sống tinh thần xã hội trong chủ nghĩa duy vật lịch sử [40], đăng trên tạp chí Triết học số 6. Trên cơ sở so sánh phạm trù đời sống tinh thần với phạm trù ý thức xã hội, văn hóa tinh thần và kiến trúc thượng tầng, tác giả cho rằng, cấp độ chung nhất trong sự nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử về đời sống tinh thần xã hội cần có sự kết hợp cả ba góc độ là nhận thức luận, bản thể luận và xã hội học. Bởi “chỉ có sự kết hợp như vậy thì mới hiểu được đời sống tinh thần xã hội là cái vừa đối lập lại vừa thống nhất với đời sống vật chất xã hội, vừa có tính chất trừu tượng - thuần túy tinh thần, lại vừa có tính chất hiện thực - thực tiễn tinh thần” [40, 34 - 37]. Mặc dù công trình nghiên cứu mới chỉ dừng góc độ bài báo, nhưng cách phân tích và cách luận giải về đời sống tinh thần của Phùng Đông hỗ trợ rất nhiều cho tác giả luận án trong hướng nghiên cứu này.
Năm 1998, cuốn Đời sống tinh thần của cá nhân, khái niệm và nguyên tắc nghiên cứu [133] của Vi Quang Thọ được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội 14 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay xuất bản. Với hai chương và gần hai trăm trang sách, Vi Quang Thọ đã phân tích, làm rõ khái niệm, những khía cạnh cơ bản và nguyên tắc nghiên cứu đời sống tinh thần cá nhân. Từ đó, ông đã chỉ ra những yếu tố cơ bản của đời sống tinh thần con người như mục đích, giá trị, lý tưởng, giao tiếp và vấn đề tự hoàn thiện đạo đức. Tác giả cho rằng, “đời sống tinh thần của xã hội và của cá nhân là có tính kế thừa, biến đổi và phát triển qua những chặng đường dài lịch sử xã hội loài người… đặc thù của đời sống tinh thần đặc trưng cho mỗi xã hội, cho loại hình đời sống tinh thần của xã hội và của cá nhân được biểu hiện ở những hình thức lịch sử - cụ thể của nó” [133, 21].
Công trình của tác giả Vi Quang Thọ tuy thiên về phân tích đời sống của cá nhân, song nó có giá trị tham khảo rất lớn cho tác giả của luận án trong việc chỉ ra sự khác biệt giữa đời sống tinh thần của xã hội với đời sống tinh thần của cá nhân. Năm 1999, Trần Khắc Việt bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học với đề tài Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [177]. Luận án chia làm hai chương với 5 tiết, trong đó tác giả dành chương 1 để phân tích lý luận chung về đời sống tinh thần của xã hội. Trần Khắc Việt đã vận dụng những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin vào phân tích các lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội, để khái quát tính quy luật trong sự vận động của đời sống tinh thần xã hội.
Trên cơ sở đó, chỉ ra những nhân tố tác động, chi phối đến đời sống tinh thần xã hội và dùng những kết quả này soi rọi vào thực tiễn xây dựng đời sống tinh thần ở nước ta. Công trình nghiên cứu này của Trần Khắc Việt rất hữu ích cho tác giả luận án trong hướng nghiên cứu về đời sống tinh thần xã hội. Cũng trong năm 1999, Đào Duy Thanh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Thẩm mỹ học Mác - Lênin với đề tài Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người [125]. Tác giả cho rằng, để đi đến một định nghĩa có tính khoa học về đời sống tinh thần xã hội, cần phải xác định những dấu hiệu cơ bản (tức nội dung) của nó.
Đó là việc xác định tính đặc trưng và bản chất của đời sống tinh thần, bao gồm cả mối tương quan với ý thức xã hội, với văn hóa tinh thần trong sự thống nhất của các hoạt động và quan hệ tinh thần.