phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận bao gồm 3 chƣơng, với 7 tiết. - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về nhân sinh quan Phật giáo - Chƣơng 2: Những ảnh hƣởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đạo đức của ngƣời Việt Nam hiện nay - Chƣơng 3: Một số khuyến nghị để phát huy tính tích cực và hạn chế những tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đạo đức của ngƣời Việt Nam hiện nay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 1. Khái quát về sự ra đời Phật giáo 1.
Sự hình thành và phát triển Phật giáo Đạo Phật “đƣợc hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VI (TCN) ở Ấn Độ, ngƣời sáng lập là thái tử Sidharta, ngƣời đời sau gọi là đức Phật. Chúng ta ngày nay thƣờng gọi Ngài là Đức Phật, hoặc Đức Phật Cồ-đàm”. “Đức Phật sống vào khoảng 25 thế kỷ trƣớc tại vùng Bắc Ấn độ. Ngài sinh ra là một vị hoàng tử của vƣơng quốc Thích-ca (Sakya) tại vùng chân núi Hy mã lạp sơn, nay thuộc nƣớc Nepal.
Ngài sống cuộc sống trong nhung lụa, có một thời niên thiếu cao sang và đã kết hôn với công chúa Da-du-đà- la (Yasodhara), và có một ngƣời con trai tên là La-hầu-la (Rahula). Nhƣng, bản thân Đức Phật lại không hề muốn sống cuộc sống cuộc sống nhung lụa kế vị vua cha mà ngƣợc lại, ngài rời bỏ hoàng cung theo các nhà tƣ tƣởng học tập, cuối cùng Thích Ca tự mình sáng lập học thuyết và đã đƣợc truyền bá khắp nơi sau đó đƣợc phát triển thành một tôn giáo lớn trên thế giới”. “Một ngày nọ Ngài đánh xe ngựa dạo chơi trên đƣờng phố, Ngài đã nhìn thấy những cảnh vật làm thay đổi cách suy nghĩ của Ngài. Ngài thấy một cụ già run rẩy, một ngƣời bệnh rên siết và một tử thi sình thối.
Những cảnh tƣợng này đã khiến chô Đức Phật phải suy nghĩ rất nhiều và quyết tâm tìm ra đƣợc cách để giúp cho toàn nhân loại thoát khỏi những khổ đau của đời sống đem lại, để con ngƣời thoát khỏi hoạn khổ đau”. “Lúc 29 tuổi, Sĩ-đạt-đa rời hoàng cung, rời xa gia đình và vợ con, bỏ lại cả vƣơng quốc của mình để gia nhập sống đời sống của một đạo sĩ khất thực trong 6 năm, để đi tìm con đƣờng diệt khổ cho cuộc đời con ngƣời. Vào đêm trăng rằm tháng Tƣ, khi ngồi thiền dƣới cội cây Bồ đề ở Gaya, Ngài tìm đƣợc lời giải đáp và giác ngộ. Lúc đó, Ngài đƣợc 35 tuổi.
Đấng Giác Ngộ giờ đây đƣợc gọi là Đức Phật”. “Trong cả cuộc đời hoằng hóa, dù phải đối phó với bao nhiêu trở ngại, Đức Phật lúc nào cũng giữ một phong thái an nhiên tự tại, và ngay cả trong giờ phút lâm chung, Ngài vẫn bình thản cho dù thân xác đã suy kiệt. Ngay trong giờ phút cuối cùng đó, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy và khuyên bảo các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đệ tử để họ tiếp tục tu tập theo giáo pháp của Ngài: “Nầy các tỳ kheo, Như Lai khuyên quý vị rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường, quý vị hãy tinh tấn với chánh niệm”. Đó là những lời cuối cùng của đức Phật, và Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi, trong năm 543 trƣớc Công Nguyên”.
“Sự ra đời của Phật giáo cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm là một cuộc cách mạng trong xã hội Ấn Độ cổ đại bởi vì đạo Phật đã xóa bỏ đi những thể chế giai cấp truyền thống, những tín ngƣỡng lỗi thời và những quan điểm triết học thịnh hành để hình thành nên một tín ngƣỡng có thể đƣợc gọi là tinh thần khoa học và lý trí. Kể từ đó trở đi Phật giáo đã lan truyền khắp các nƣớc Á Châu và có ảnh hƣởng rất lớn đến những nét truyền thống, văn hóa, phong tục của ngƣời dân bản địa các khu vực mà nó đến”. Quá trình du nhập, phát triển Phật giáo ở Việt Nam Đến ngày nay, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam chƣa thống nhất đƣợc với nhau về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Có ý kiến cho rằng từ những thế kỷ trƣớc công nguyên, nhiều thuyền buôn Ấn Độ đã cập bến nƣớc ta, các thƣơng nhân của Ấn Độ đã mang theo nền văn hóa Ấn Độ đến Việt Nam.
Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, Phật giáo đƣợc du nhập vào nƣớc ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Hoa và một số ít từ Campuchia. Từ khoảng thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V đã có rất nhiều nhà sƣ Ấn Độ và Trung Quốc cùng vào Việt Nam để truyền đạo nhƣ Mahakyvuc, Khƣudala, Mâu Bác Cƣ sĩ. Ở thế kỷ thứ III có Khƣơng Tăng Hội và Chi Lƣơng Cƣơng ngƣời Ấn Độ, thế kỷ thứ IV có Du Pháp Lan, Du Đạo Toái ngƣời Trung Quốc, thế kỷ thứ V có Đàm Hoằng.
Ở thời kỳ này cũng có một số nhà sƣ Việt Nam danh tiếng nhƣ Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền. Quá trình truyền đạo này đã hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến thế kỷ X vẫn đƣợc xem đây là giai đoạn truyền giáo. Tuy nhiên trong giai đoạn này, ảnh hƣởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ đã giảm và các nhà truyền giáo Trung Quốc tăng lên và đặc biệt hơn là còn du nhập các phái thiền của Trung Quốc vào Việt Nam.
Trong mƣời thế kỷ đầu truyền bá vào Việt Nam, mặc dù trong hoàn cảnh đất nƣớc bị xâm lăng đô hộ nhƣng Phật giáo vẫn tạo ra sức ảnh hƣởng và phát triển trong nhân dân và có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những chuẩn bị cho sự phát triển mới trong giai đoạn đất nƣớc độc lập, tự chủ. Đến thế kỷ X, khi nƣớc ta đã giành đƣợc quyền tự chủ, trong thời kỳ này Phật giáo bắt đầu phát triển hƣng thịnh và có những đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nƣớc. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định ra phẩm trật tăng già và ban chức cho tăng sĩ. Vua Đại Hành sau khi hòa với nhà Tống đã sai sứ sang triều cống Trung Hoa và xin thỉnh kinh Phật đem về truyền bá.
Nhiều thiền sƣ nhƣ Thiền sƣ Pháp Thuận, Thiền sƣ Vạn Hạnh đã đƣợc vua Lê Đại Hành mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào sự hƣng thịnh của đất nƣớc. Triều Lý, triều đại đƣợc xem là triều đại Phật giáo đầu tiên trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Lý Thái Tổ vị vua đầu tiên sáng lập nên nhà Lý là ngƣời xuất thân từ cửa Phật, đƣợc nuôi dƣỡng và trƣởng thành ở chốn thiền môn. Mọi công việc lớn nhỏ của nhà nƣớc trong giai đoạn này đều có sự đóng gớp ý tƣởng của các vị thiền sƣ.
Triều đình lúc này đã cử sứ thần sang Trung Quốc thỉnh kinh và khuyến khích việc xuất gia tu hành. Phật giáo đƣợc trọng dụng nên phát triển rất nhanh, chùa Phật đƣợc xây dựng ở hầu khắp các làng xã và trở thành trung tâm tôn giáo lớn nhất ở nông thôn miền Bắc lúc bấy giờ. Có thể nói, hơn 200 năm dƣới triều đại nhà Lý Phật giáo đã chiếm vị trí độc tôn và có những ảnh hƣởng mạnh mẽ đến mọi phƣơng diện của đời sống xã hội Đại Việt. Sang đến thời nhà Trần, bộ máy hành chính nhà nƣớc đã dần đƣợc xây dựng và hoàn chỉnh hơn.
Nho giáo lúc này dần chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần và tổ chức xã hội. Nhƣng Phật giáo thời Trần đến giữa thế kỷ XIV vẫn giữ đƣợc sự hƣng thịnh của nó. Các vua đời nhà Trần ý thức đƣợc rõ vai trò của Nho giáo và Phật giáo đối với xã hội. Trải qua quá trình du nhập và phát triển đến thời Trần, Phật giáo ở Việt Nam đã có sự góp mặt của ba thiền phái từ Ấn Độ và Trung Quốc là Tỳ Ni Đa Lƣu chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đƣờng.
Các tăng sĩ đời Trần đã không còn trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị nhƣ trƣớc nữa, nhƣng Phật giáo vẫn là một yếu tố quan trọng để liên kết nhân tâm và cố kết cộng đồng. Ở thời kỳ này rất nhiều chùa pháp quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo đã đƣợc xây dựng, Phật giáo thời Trần đã có sự phát triển đến cực thịnh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ giữa thế kỷ XIV, cùng với sự suy vi của triều đại nhà Trần, Phật giáo cũng dần mất đi tính nhập thế tích cực và ngày càng suy vong. Bảy năm dƣới triều đại nhà Hồ, Phật giáo suy vi một cách nhanh chóng.
Quân Minh sang xâm lƣợc nƣớc ta mƣợn cớ là muốn khôi phục nhà Trần và đặt chế độ cai trị hà khắc, với âm mƣu Hán hóa văn hóa Đại Việt, quân Minh đã tịch thu và đốt hết sách vở trong đó có kinh sách nhà Phật, chùa chiền bị đốt phá, sƣ tăng bị giết hại. Đến thời hậu Lê, ở nƣớc ta xuất hiện thêm hai phái thiền là Thiền Tào Động ở Đàng Ngoài và Thiền Lâm Tế ở Đàng Trong. Thời Minh Mạng và Thiều Thị bắt đầu có sự khởi sắc trùng tu những ngôi chùa và Tổ đình quan trọng, nhƣng trong nhân dân thì ảnh hƣởng của Phật giáo không còn sâu đậm nhƣ trƣớc nữa. Thời vua Tự Đức nƣớc ta rơi vào vòng đô hộ của Pháp, Phật giáo lúc này lại càng suy vy hơn.
Dƣới sự cai trị của nhà Nguyễn cả trƣớc và sau khi Pháp xâm lƣợc, Phật giáo tiếp tục suy tàn. Những năm 30 của thế kỷ XX, một sô nhà tu hành và một số nhân sĩ, trí thức Phật giáo đã đứng ra vận động phong trào “Chấn hƣng Phật giáo”, kể từ đó Phật giáo đã có sự khởi sắc hơn. Một bộ phận Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức, một số cơ sở đào tạo tăng tài lần lƣợt ra đời nhƣ An Nam Phật học hội, Hội Phật học Bắc Kỳ,… Thời kỳ Mỹ - Diệm, Phật giáo ở hai miền có sự khác biệt nhất định. Ở miền Bắc, Phật giáo đƣợc quy tụ trong một tổ chức duy nhất là “Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam” sinh hoạt tín ngƣỡng gắn với các hoạt động yêu nƣớc, gắn bó với dân tộc.
Ở miền Nam, do tình hình chính trị phức tạp, Phật giáo bị phân rã theo nhiều xu hƣớng chính trị khác nhau và hình thành nên 14 hệ phái.