Chương 1 NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Nhân sinh quan Phật giáo 1.Khái niệm nhân sinh quan, nhân sinh quan Phật giáo Từ lâu, trong triết học, khái niệm “nhân sinh quan” hay được giới học giả bàn đến và thường được sử dụng trong sự tương quan so sánh trong mối quan hệ với thế giới quan. Vì vậy, khi bàn về nhân sinh quan, trước hết chúng ta xem xét khái niệm “thế giới quan”. “Thế giới quan là quan niệm, quan điểm của con người về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người nhằm đáp ứng những vấn đề về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của con người” [24, tr.
Theo ý nghĩa trên, thế giới quan đã bao hàm nhân sinh quan. Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó có ba hình thức thế giới quan cơ bản đó là thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. “Thế giới quan huyền thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng của con người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai của lịch sử. Thế giới quan huyền thoại thể hiện qua các huyền thoại mà con người xây dựng lên để phản ánh hiện thực khách quan.
Thế giới quan huyền thoại phản ánh những kết quả cảm nhận ban đầu của người nguyên thủy về tự nhiên và đời sống xã hội” [24, tr. “Thế giới quan tôn giáo là hình thức phản ánh thế giới quan một cách hư ảo, là sự giải thích thế giới dựa trên sự thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới bằng các lực lượng siêu nhiên, thần thánh” [24, tr. \ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Thế giới quan triết học là hình thức thế giới quan được thể hiện bằng hệ thống lý luận, hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật” [24, tr. Thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của bản thân, trên cơ sở đó hoạt động của con người mang tính hướng đích và thể hiện được tính tự giác.
Thế giới quan giúp con người xác định lý tưởng, ước mơ, hoài bão, giúp con người định hướng đúng trong cuộc sống của bản thân mình và đôi khi giúp đỡ những người xung quanh. “Nhân sinh” theo “Đại từ điển Tiếng Việt” là cuộc sống của con người; theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” thì nhân sinh quan là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lý tưởng, lẽ sống, lối sống… Mỗi một thời đại khác nhau, con người có một nhân sinh quan khác nhau, gắn liền với cuộc đời và thời đại mình đang sống. Theo quan niệm của các nhà kinh điển Mác, Ănghen thì xã hội loài người chúng ta trải qua năm hình thái kinh tế xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, nhân sinh quan được thể hiện ở một trình độ nhất định.
Mỗi một nhân sinh quan đều có những cơ sở kinh tế - xã hội nhất định. Như vậy, nhân sinh quan là toàn bộ những quan niệm chung nhất về cuộc sống của con người. Nhân sinh quan đề ra và giải đáp những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người. Nhân sinh quan là vấn đề quan trọng nhất đối với con người.
Trong cuộc sống của mình con người luôn suy nghĩ về cuộc sống của chính mình và không lúc nào ngừng hoạt động để phục vụ cho cuộc sống của mình. Nhân sinh quan nói lên quan niệm của con người về bản chất, mục đích của cuộc sống, thái độ của con người đối với con người và con người đối với tự nhiên. Nhờ có nhân sinh quan đúng đắn mà con người mới có những bước đi đúng đắn và vững chắc hơn. Nhân sinh quan có tính giai cấp, với mỗi một giai cấp khác nhau, địa vị khác nhau trong từng thời kỳ khác nhau đều có nhân sinh quan của riêng \ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những giai cấp đối nghịch nhau trong xã hội cũng có nhân sinh quan đối nghịch nhau. Nhân sinh quan là vấn đề quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nhân sinh quan là toàn bộ những kinh nghiệm, cách nhìn nhận chung nhất về cuộc sống, cho nên nhân sinh quan là tư tưởng chủ đạo suyên xuốt tư tưởng và hành động của con người, là nguồn gốc của mọi suy nghĩ và hành vi, điều tiết mọi hoạt động liên quan đến trí óc và thực hiện ra bằng hành động. Nhân sinh của con người là một phạm trù rộng, với tư cách là hình thái ý thức, tư tưởng, trong mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng người đều có những nhân sinh quan khác nhau.
Cũng như mọi ý thức tư tưởng khác, nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội, nghĩa là phản ánh địa vị giai cấp của con người trong sản xuất xã hội, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích của con người trong xã hội. Trong cuộc sống, con người luôn suy nghĩ về cuộc sống của mình và không ngừng hoạt động để phục vụ cho cuộc sống của mình. Nhân sinh quan là toàn bộ những kinh nghiệm, cách nhìn nhận chung nhất về cuộc sống, cho nên đồng thời chúng cũng là những tư tưởng chỉ đạo mỗi suy nghĩ và hành động của con người. Nhân sinh quan tôn giáo được đặt trong mối quan hệ với thế giới quan tôn giáo.
Nhân sinh quan tôn giáo được hiểu là toàn bộ những quan niệm chung nhất của tôn giáo về con người, về cuộc sống con người nhằm giải đáp cho những vấn đề về lẽ sống và định hướng niềm tin vào sự giải thoát. Như vậy, qua tìm hiểu như trên, chúng tôi cho rằng: Nhân sinh quan Phật giáo là toàn bộ những quan niệm của Phật giáo về con người và đời người, về bản chất của con người, bản chất cuộc sống con nguời, về mục đích cuộc sống, đó là sự khổ, thái độ và phương pháp tu tập của con người nhằm thoát khổ, đạt tới giác ngộ, giải thoát. Nhân sinh quan Phật giáo là một bộ phận quan trọng không nhỏ trong hệ tư tưởng Phật giáo và nó có sức lan rộng tới mọi tầng lớp nhân dân. Nó là những quan niệm chung nhất về cuộc sống con người, nhằm giải đáp cho con \ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người những vấn đề mà con người thường gặp trong cuộc sống và hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn, một cuộc sống có ý nghĩa hơn.Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Phật giáo được lưu hành rộng rãi ở khu vực châu Á và gần đây lan rộng sang các nước Âu – Mỹ.
Trong quá trình truyền bá của mình, Phật giáo đã kết hợp với những tín ngưỡng, tập tục dân gian, văn hóa bản địa để hình thành nên nhiều tông phái và học phái khác nhau. Từ một vùng nhỏ bé của đất nước Ấn Độ Phật giáo đã lan truyền ra khắp thế giới bằng con đường giao lưu văn hoá và buôn bán. Các quốc gia mà Phật giáo ảnh hưởng đến đầu tiên là các quốc gia nằm trong vùng Đông Á. Đi đến đâu, Phật giáo cũng được chào đón vì nó hòa hợp với bản sắc văn hoá dân tộc của các nước phương Đông.
Ngày nay, Phật giáo đã có những bước phát triển vượt bậc với số lượng phật tử nhiều nhất trong tất cả các tôn giáo. Phật giáo không chỉ giới hạn sự tồn tại của nó ở phương Đông mà đã lan toả sang cả các nước phương Tây. Nhân sinh quan Phật giáo là quan niệm về con người, đời người, về sự sinh thành, tồn tại, phát triển của con người, về lẽ sống – chết, về quan niệm sống và mục đích sống của mỗi con người. Phật giáo nói chung và nhân sinh quan Phật giáo đều bị ảnh hưởng của Upanisad (một bộ phận quan trọng trong kinh Vê da – bộ kinh cổ của Ấn Độ).
Triết lý nhân sinh Phật giáo bắt nguồn từ thế giới quan, do thế giới quan Phật giáo chi phối, nhất là thuyết duyên sinh, vô thường, vô ngã. Mặt khác với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự quy định của tồn tại xã hội và tác động của các hình thái ý thức xã hội khác. Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống những quan điểm về con người, đời người, thể hiện rõ trong bốn chân lý huyền diệu được gọi là Tứ \ 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đây là học thuyết lớn nhất của Phật giáo để đạt mục đích cuối cùng là giải thoát cho chúng sinh thoát khỏi đau khổ.1 Quan niệm về con người và bản chất con người Theo quan niệm Phật giáo thì con người không phải do Thượng đế sinh ra mà con người gồm hai phần là sinh lý và tâm lý.
Con người tuân theo quy luật sinh – trụ – dị – diệt. Sau khi chết con người đầu thai vào kiếp khác theo thuyết nhân quả, nghiệp báo luân hồi. Thuyết nhân duyên sinh là cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới thực tại, chân lý cuộc đời. Với lý nhân duyên sinh, Phật muốn nói tới một định lý.
Theo định lý ấy, vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã. Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành, biến đổi. Duyên là những quan hệ, những điều kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởi hiện hành. Tất cả những hiện tượng trên thế giới đều có quan hệ mật thiết với nhau, không một hiện tượng nào được thành lập mà không có sự nương tựa vào nhau Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng, điệp điệp.
Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hoà hợp mà có, một cách giả hợp mà sinh ra. Lý thuyết nhân duyên cho ta thấy sự vật hình thành là do nhân duyên hoà hợp, con người làm chủ được đời mình, được vận mệnh của mình. “Thuyết nhân duyên cho ta thấy con người là một đấng tạo hóa, tự tạo ra cuộc sống của mình, con người làm chủ đời mình, làm chủ vận mệnh của mình. Cuộc sống của con người tươi đẹp, hạnh phúc hay phiền não, đau khổ là do nhân duyên mà con người tự tạo ra” [83, tr.
Với nhận thức như vậy, con người tìm được một phương thức sống, một cách sống cho ra sống, sống vì hạnh phúc của mọi người, sống an lạc, tự tại, giải thoát. \ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.