Chương 1: Các khái niệm và bôi cảnh văn hóa 2 x z 1. Giới thiệu Giao tiếp đứng ở trung tâm của các tương tác hàng ngày và đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành sự hiểu biết chung về thế giới và tạo ra mối kết nối với người khác. Với sự gia tăng của công nghệ và ngữ cảnh văn hóa đặc biệt của Việt Nam, luận văn này sự hội tụ của giao tiếp, văn hóa và công nghệ, đặc biệt là trong CMC. Trong chương đâu tiên này, nghiên cứu nay tập trung xoay quanh các khái niệm co bản, ban chat của giao tiệp, các biêu hiện đa dạng của nó và môi liên hệ ban chat của nó với văn hóa.
Sau đó, các van đê văn hóa ứng xử được ban dén văn hóa ứng Xử với giao tiép và ảnh hưởng của nó đôi với hành vi con người. Chuyén sang lĩnh vực kỹ thuật số, nghiên cứu tập trung vào CMC, làm rõ cơ cấu, phân loại và các ứng dụng đặc biệt trong Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu giới thiệu khung lý thuyết được TeLCU của Bodomo, giúp phân tích tác động của công nghệ đôi với giao tiép va vai trò tiêm năng của nó trong tạo ra sự khác biệt văn hóa. Các phần tiếp theo sẽ đi sâu vào sự phức tạp của giao tiếp, văn hóa ứng xử và CMC.
Hiểu biết cơ bản này sẽ là khung hướng dẫn cho việc phân tích dữ liệu trong chương thứ hai và giúp giải thích các yếu tố ảnh hưởng cơ bản trong chương thứ ba. Giao tiếp Giao tiép là một hiện tượng phức tạp và da chiều, khó có thể định nghĩa một cách đơn giản và day đủ. Thay vì vậy, giống như sự bừng nở trong một bức tranh phong phú của ý nghĩa và sự trao đổi, mỗi cái đóng góp vào sự phức tạp của tương tác giữa con người với con người. Nguôn gôc từ từ tiêng Latin “communicare”, có nghĩa là 22 chia sẻ và làm chung [81, tr.
338], giao tiếp có thể hiểu là mạng lưới phức tap của các kết nối được tạo ra thông qua việc trao đổi ý nghĩa, ý kiến và cảm xúc. Gordon [44] một cách ngắn gọn mô tả giao tiếp là việc chia sẻ ý nghĩa giữa các cá nhân sử dụng một hệ thống chung của các biểu tượng. Khái niệm này nhấn mạnh vai trò cơ bản của biểu tượng trong việc nối liền tâm trí và thiết lập sự hiểu biết chung. Madhow [57] mở rộng phạm vi bằng cách coi đặc trưng giao tiếp là việc truyền thông tin qua các điểm khác nhau trong không gian và thời gian.
Thông tin này bao gồm nhiều định dạng khác nhau, bao gồm giọng nói, âm thanh, video, tệp đữ liệu, trang web và nhiều hơn nữa. Định nghĩa này làm nồi bật sự đa dạng của các kênh và công nghệ cho phép giao tiếp trong thế giới hiện đại của chúng ta. Xem xét tính toàn điện của giao tiếp, Usera [79] làm sáng tỏ các biểu hiện đa dạng của nó trong nhiều ngữ cảnh và sinh vật sống khác nhau. Từ các dấu hiệu phi ngôn ngữ của động vật đến việc giao tiếp của chúng có nhịp nhàng gắn liền với chu kỳ mặt trăng, giao tiếp thực sự là một hiện tượng khắp nơi.
Ngữ cảnh là một yếu tố quan trọng khi nhịp điệu phức tạp trong giao tiếp của con người bắt đầu. Usera [79] nhắn mạnh cách ngữ cảnh hình thành và ảnh hưởng đến giao tiếp, tạo điều kiện cho việc trao đổi thông điệp. Sự tương tác giữa ngữ cảnh, mối quan hệ và mục tiêu giao tiếp định hình cách chúng ta truyền đạt và hiểu ý nghĩa. Các chương sau của bài viết này, đặc biệt là kết quả của một số câu hỏi khảo sát, sẽ cho thay tầm quan trong của ngữ cảnh trong việc hiểu về Giao tiếp Trực tuyến thông qua Máy tính của người Việt Nam.
Theo cách hiểu, giao tiếp là huyết thống của sự tương tác giữa người với người, vượt qua cá nhân dé kết nối tới sự hiểu biết chung [79]. Nó làm như một cầu nối giữa tâm trí của mọi người, một phương tiện cho ý kiến di chuyển và một cơ chế để tạo mọi kết nối. Rút ra từ những quan điểm này, một định nghĩa tổng quan về giao tiếp có thé được tổng hợp: Giao tiếp là quá trình phức tap va năng động của việc chia sẻ ý nghĩa, suy nghĩ và cảm xúc giữa các cá nhân thông qua một loạt đa dạng của biểu tượng và phương tiện. Nó bao gồm việc tạo ra, truyền tải và hiểu thông điệp trong ngữ cảnh cụ thể, tạo điều kiện cho sự kết nối và nuôi dưỡng sự hiểu biết chung.
Trong phạm vi của luận văn này, van dé phân định phạm vi cụ thé 23 của giao tiếp sẽ được xem xét. Ở đây, tập trung sẽ được hẹp lại vào lĩnh vực giao tiếp băng văn bản thông qua thiết bị điện tử, thường được gọi là CMC. Nghiên cứu này loại trừ các hình thức giao tiếp như trò chuyện, qua phát thanh và truyền hình, cũng như giao tiếp thông qua hình ảnh và các phương tiện không phải là văn bản. Mặc dù những cách giao tiếp khác này đều có ý nghĩa không thể phủ nhận trong tương tác con người, nhưng chúng vượt ra ngoài nghiên cứu này.
Bằng việc tập trung vào CMC của người Việt Nam,cuốn sách này nhằm mục đích đi sâu vào các động thái phức tạp và hệ thức độc đáo của giao tiếp bằng văn bản trong môi trường số hóa, làm sáng tỏ cách mà người Việt Nam tham gia, chia sẻ và hiểu ý nghĩa thông qua tương tác dựa trên văn bản. Động lực giao tiếp đa thế hệ Giao tiếp đa thế hệ, một lĩnh vực phức tạp của sự tương tác kéo dài qua các bối cảnh lịch sử và kỹ năng giao tiếp khác nhau, hé lộ một bức tranh các diễn giải và sự hiểu sai tiềm ân [83, tr. “This is particularly true when the chronological distance between interactants means that they lived through very different historical periods and may be operating with different communication assumptions, skills, needs, and experiences” (“Điều nay đặc biệt đúng khi khoảng cách thời gian giữa các tác động làm cho họ đã trải qua các giai đoạn lịch sử rất khác nhau và có thê đang hoạt động với những giả định, kỹ năng, nhu cầu và kinh nghiệm giao tiếp khác nhau”) [83, tr. Khi các thế hệ gặp gỡ, quá trình lịch sử độc đáo của họ ảnh hưởng đến cuộc trò chuyện — giống như các thanh thiếu niên ưa thích thảo luận với bạn đồng trang lứa có chia sẻ kinh nghiệm sống tương tự, một tâm tư được lặp lại bởi người lớn tuổi [75, tr.
Mặc dù có những sự tương đồng này, việc chắp cầu khoảng cách giao tiếp đa thế hệ vẫn là một thách thức, đặc biệt khi cố gắng tạo cuộc trò chuyện giữa thành viên lớn tuổi và nhỏ tuổi trong gia đình có sự khác biệt về sở thích [75, tr. Một điều thú vị là xung đột thế hệ thường bị gia tăng thêm bởi những phong cách và giá trị giao tiếp khác biệt được hình thành từ sự chênh lệch thé hệ [65, tr. Sự xung đột này gia tăng bởi các cách thức giao tiếp thay đổi, với 24 các thanh thiếu niên ngày càng ưa thích tương tác kỹ thuật số hơn là giao tiếp trực tiếp, dẫn đến việc giảm thời gian gặp gỡ mặt đối diện với phụ huynh và người lớn khác [75, tr. Quan điểm cũng có ảnh hưởng quan trọng, với các thế hệ trẻ nhìn nhận người lớn tuổi là xa lạ với công nghệ giao tiếp hiện dai, và người lớn tuổi nhìn nhận thanh niên là thiếu về kỹ năng xã hội truyền thống do họ đắm chìm trong công nghệ [65, tr.
Hiểu rõ những động lực nhiều chiều này, bao gồm di sản lịch sử, các phương thức giao tiếp tiến hóa và quan điểm khác biệt, là quan trọng đề kết nối khoảng cách giao tiếp đa thế hệ và tạo ra mối quan hệ tích cực giữa các thế hệ. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, khả năng đọc viết và giao tiếp Sự tương tác phức tạp giữa ngôn ngữ, khả năng đọc viết và giao tiếp tạo nên một viên gạch nền cơ bản của xã hội và văn hóa con người. Theo định nghĩa của Crystal và Robins [33], ngôn ngữ là “a system of conventional spoken, manual (signed), or written symbols” (“hé thong cac biéu tượng nói, ki hiệu hoặc chữ viết) cho phép cá nhân diễn đạt mình, giao tiếp và tham gia vào các hoạt động văn hóa khác nhau. Nó bao gồm không chỉ việc truyền tải thông tin mà còn việc thê hiện bản dạng cá nhân, sáng tạo tưởng tượng và thải động lực cảm xúc.
Việc học ngôn ngữ là một mốc phát triển quan trọng đối với mỗi cá nhân. Nhu Crystal va Robins [33] chỉ ra, “Every physiologically and mentally typical person acquires in childhood the ability to make use, as both sender and receiver, of a system of communication that comprises a circumscribed set of symbols” (“Moi người bình thường về mặt sinh lý và tâm ly đều phát triển kha năng sử dung, cả ở vai trò người gửi và người nhận, của một hệ thống giao tiếp gồm một bộ biéu tượng được xác định”). Hệ thống này bao gồm âm thanh nói trong các ngôn ngữ nói và các cử chỉ tay hoặc cơ thé trong các ngôn ngữ ký hiệu. Thông qua những biéu tượng này, cá nhân truyền đạt cảm xúc, ảnh hưởng đến người khác và thiết lập kết nối trong cộng đồng ngôn ngữ của họ.
Tuy nhiên, ý nghĩa của ngôn ngữ vượt xa khỏi việc giao tiếp đơn thuần. “In demonstrating the inadequacy and inappropriateness of such a view of language, attention has already been drawn to the ways in which 25 one’s native language is intimately and in all sorts of details related to the rest of one’s life in a community and to smaller groups within that community” (“Bang cách chỉ ra sự thiếu hụt và không phù hợp của quan điểm về ngôn ngữ như vậy, đã được thu hút sự chú ý đến các cách mà ngôn ngữ bản xứ của một người liên quan chặt chẽ va trong tat cả các chi tiết đến phần còn lại của cuộc sống của họ trong cộng đồng và các nhóm nhỏ trong cộng đồng đó”) [33]. Ngôn ngữ trở thành một gương mà qua đó cá nhân nhìn thây và tương tác với môi trường xã hội của họ. Văn hóa, một khái niệm phức tạp bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, tập tục và nhiều hơn nữa, nằm ân chứa trong ngôn ngữ.
Mối quan hệ cộng sinh này giữa ngôn ngữ và văn hóa thúc đây việc truyền tải các giá trị văn hóa, truyền thống và kiến thức chung qua các thé hệ. Khái niệm về khả năng đọc viết, ban đầu được hiểu là khả năng đọc và viết, đã phát triển trong thời đại số hóa.