chương 1 và đi sâu vào các mục tiêu ở những chương tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG SỐ Chương 2 là phần đề cập đến lịch sử hình thành ngân hàng số, những khung lý thuyết về ngân hàng số, hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại và ảnh hưởng của ngân hàng số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, các khái niệm về ngân hàng số và hiệu qủa hoạt động. Và cuối cùng là khảo lược các nghiên cứu có liên quan trên thế giới và trong nước. Lý thuyết về ngân hàng số 2.
Lịch sử hình thành Sau hàng thế kỷ tiến bộ, đã diễn ra bốn cuộc Cách mạng công nghiệp trên toàn cầu, mở ra một thời đại mới về công nghệ số. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19 và bắt đầu thế kỷ 20, khi cách mạng công nghiệp lần thứ hai xảy ra, kỷ nguyên số đã bắt đầu, đồng thời chứng kiến sự ra đời của nhiều đổi mới quan trọng như máy tính, máy tự động, robot, hệ thống tự động điều khiển và polymer - một loại vật liệu mới có độ bền và khả năng chịu nhiệt cao. Công nghệ bắt đầu tiếp cận lĩnh vực Ngân hàng, tạo ra những ngân hàng hoạt động "24/7". Trong đó, điểm đáng chú ý là sự xuất hiện của máy rút tiền tự động (ATM) vào những năm 1960, mở ra khả năng thực hiện các giao dịch rút tiền 24/7 cho khách hàng.
Phát minh này đã nhanh chóng được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại Mỹ và các quốc gia trên toàn cầu. Con số từ Cục Thống kê Lao động Mỹ chỉ ra rằng, số lượng ATM đã tăng đáng kể từ khoảng 300.000 máy vào năm 1970 lên đến 500.000 máy vào năm 1980 và tiếp tục tăng dần qua các năm. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận ở nhiều quốc gia khác, với dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới và Statistic.com cho thấy rằng, tỷ lệ ATM trên 100.000 người trưởng thành trên toàn thế giới duy trì mức tăng trưởng đều đặn từ năm 2008 đến nay. Việc phát minh máy tính đã có ảnh hưởng sâu rộng đến lĩnh vực ngân hàng từ những năm đầu của thế kỷ 20.
Việc áp dụng máy tính giúp ngân hàng tăng tốc độ xử lý giao dịch, đáp ứng được sự tăng trưởng kinh doanh và giải quyết hiệu quả các vấn 10 đề cụ thể, mở ra cơ hội tự động hóa các hoạt động. Một ví dụ điển hình là vào thập niên 1960, Ngân hàng New South Wales đã đầu tư một số tiền lớn để mua một máy tính đầu tiên, nhằm thay thế cho việc sử dụng các máy tính kế toán riêng lẻ tại các chi nhánh bằng một hệ thống máy tính trung tâm xử lý giao dịch của ngân hàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, máy tính vẫn tồn tại nhiều hạn chế như khối lượng lớn, chi phí cao và yêu cầu một đội ngũ kỹ sư chuyên nghiệp để vận hành và bảo trì. Do đó, việc ứng dụng máy tính trong ngành ngân hàng chưa đạt đến đỉnh điểm cho đến khi Cách mạng Công nghiệp thứ ba diễn ra, khi mà sự bùng nổ của công nghệ máy tính thực sự làm thay đổi cả ngành ngân hàng.
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba, bắt đầu từ những năm 1970 và kéo dài đến năm 2012, đã đem lại những đột phá quan trọng cho lĩnh vực Ngân hàng thông qua sự ra đời của máy tính cá nhân, laptop, Internet, điện thoại di động và smartphone. Sự kết hợp giữa máy tính và Internet đã có ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Đặc biệt, vào những năm 1990, việc triển khai dịch vụ ngân hàng trực tuyến đã mở ra khả năng cho người dùng truy cập tài khoản của họ thông qua máy tính kết nối Internet. Bước đột phá lớn nhất là việc ra đời của chiếc điện thoại thông minh đầu tiên trên thế giới, được sản xuất và tung ra thị trường bởi IBM vào năm 1993 dưới tên gọi là Simon.
Tuy nhiên, mãi cho đến năm 2000, điện thoại thông minh mới chính thức kết nối với mạng 3G, đóng góp quan trọng vào việc nâng cao hiệu suất cho loại điện thoại này. Điều quan trọng là giá cước và chi phí cho điện thoại thông minh giảm dần theo thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của điện thoại di động nói chung và điện thoại thông minh nói riêng trên toàn cầu. Điều này cũng là nền tảng quan trọng để Mobile Banking được triển khai rộng rãi. Bắt đầu từ năm 2013, "cách mạng công nghiệp 4.0" được công nhận là một bước quan trọng đánh dấu sự chuyển biến từ cách mạng công nghiệp lần thứ ba sang lần thứ tư.
Đây là thời kỳ mà công nghệ cao đã mở ra một cánh cửa mới cho sự hiện đại hóa sản xuất, không còn phụ thuộc nhiều vào lao động như trước. Cùng với đó, xuất hiện những thách thức mới như Fintech, Big Tech, cũng như tăng cường rủi ro trong 11 hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, những thách thức này cũng mang lại cơ hội mới để tăng trưởng doanh thu thông qua các mô hình kinh doanh sáng tạo hơn, việc ra mắt sản phẩm mới hoặc chia sẻ dữ liệu với các tổ chức khác. Đồng thời, việc tự động hóa, số hóa và di động hóa giao dịch từ chi nhánh truyền thống sang các thiết bị số cũng giúp giảm chi phí hoạt động của ngân hàng.
Một ví dụ rõ ràng cho xu hướng này là sự tham gia mạnh mẽ của các công ty công nghệ vào lĩnh vực thanh toán, bao gồm Google trong tìm kiếm và quảng cáo, Apple trong công nghệ và sản xuất phần cứng, Facebook trong truyền thông xã hội và quảng cáo, cũng như Amazon, Alibaba, Rakuten và Mercado Libre trong thương mại điện tử và bán lẻ trực tuyến, cùng Tencent trong công nghệ, trò chơi và truyền thông. Mặc dù chuyển đổi số mang lại nhiều thách thức, nhưng đồng thời cũng mở ra rất nhiều cơ hội cho ngân hàng. Cụ thể, công nghệ số đã giúp ngân hàng tăng cường kết nối với các bên liên quan như khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Một ví dụ điển hình là việc triển khai chatbot trong hỗ trợ và giải đáp các vấn đề thường gặp của khách hàng, giúp giảm thiểu chi phí nhân sự và dịch vụ, đồng thời cung cấp hỗ trợ 24/7 để cải thiện trải nghiệm của khách hàng.Thêm vào đó, các tính năng mới như thanh toán hóa đơn tại ATM cũng đang được tích hợp để cung cấp thêm dịch vụ tiện ích cho khách hàng.
Khái niệm ngân hàng số Theo định nghĩa của chuyên gia Ngân hàng United Overseas Bank Singapore (UOB): Ngân hàng số được hiểu là triển khai những hoạt động kinh doanh ngân hàng trong kỷ nguyên số. Đồng nghĩa với việc khách hàng đang tiếp xúc với nhiều thiết bị công nghệ và có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ này. Theo Sarma (2017), NHS là một hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ. Nói cách khác, tất cả những gì khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng bình thường được số hóa và tích hợp vào một ứng dụng NHS duy nhất, thông qua ứng dụng này, khách hàng không cần phải đến các chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, đồng thời các hoạt động của 12 ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng.
cũng được số hóa. Ngoài ra còn một số định nghĩa khác: Chris (2014) xác định ngân hàng số là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng với dữ liệu điện tử và công nghệ số là giá trị cốt lõi. Trong khi đó IBM (2015) xác định một ngân hàng số thực sự được xây dựng dựa trên giá trị mà hầu hết các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp bằng kỹ thuật số với cơ sở hạ tầng được tối ưu hóa cho các tương tác kỹ thuật số trong thời gian thực và văn hóa của ngân hàng chấp nhận sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật số. Và CGAP (2021) định nghĩa ngân hàng số là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính có giấy phép ngân hàng, áp dụng các công nghệ mới trong tất cả các hoạt động của mình thông qua kênh cung cấp chủ yếu là kỹ thuật số.
American Banker (2018) thì cho rằng ngân hàng số là đòi hỏi cao về công nghệ bao gồm sự đổi mới trong dịch vụ tài chính cho khách hàng xung quanh các chiến lược về ứng dụng kỹ thuật số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thanh toán, RegTech, dữ liệu lớn, blockchain, API, kênh phân phối và công nghệ. Nhìn chung, các định nghĩa đều đồng nhất ngân hàng số được hiểu là ngân hàng hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ số ở tất cả các cấp độ, với các sản phẩm dịch vụ được cung cấp bằng kỹ thuật số. Trải qua hàng trăm năm phát triển, công nghệ số vẫn luôn không ngừng biến đổi và phát triển vượt bậc đến tận ngày nay. Trước khi có tên ngân hàng số thì nó đã từng xuất hiện trong ngân hàng với tên ngân hàng điện tử.
Không chỉ thay đổi về tên, mà ngân hàng số như một phiên bản hoàn thiện của ngân hàng điện tử. Dưới đây sẽ nêu ra sự khác biệt giữa ngân hàng số và ngân hàng điện tử: 13 Bảng 2. 1: Sự khác biệt giữa ngân hàng số và ngân hàng điện tử Ngân hàng số Ngân hàng điện tử (Digital Banking) (E-Banking) Ngân hàng số là một hình thức số Ngân hàng điện tử là dịch vụ hóa tất cả những hoạt động và dịch ngân hàng trực tuyến có trên vụ của ngân hàng truyền thống. máy tính, điện thoại và các thiết Khái niệm Không cần phải đến các chi nhánh bị di động có kết nối Internet.
ngân hàng, bởi các sản phẩm dịch Muốn sử dụng cần phải đến vụ đã được số hóa và tích hợp vào ngân hàng để đăng ký. một ứng dụng ngân hàng số. Đăng ký thông tin bằng eKYC, mở Chuyển tiền trong và ngoài hệ tài khoản/thẻ, rút/chuyển tiền, gửi thống, thanh toán hóa đơn điện tiết kiệm kỳ hạn/không kỳ hạn, tử, gửi tiền tiết kiệm và truy vấn Chức năng quản lý tài khoản thanh toán/tài số dư tài khoản. khoản tiết kiệm, vay vốn/tiêu dùng, thanh toán hóa đơn và các dịch vụ tiện ích khác.
Ưu điểm: Chuyển đổi số hóa hoàn Ưu điểm: Giúp khách hàng giao toàn trong mọi dịch vụ, quy trình. dịch nhanh chóng, giúp ngân Giảm chi phí nhân sự hàng tiết kiệm chi phí và tăng Có tính bảo mật cao doanh thu.