Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này bài nghiên cứu trình bày tổng quan về đề tài, từ lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu đến phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các kết quả nghiên cứu trước, chương này trình bày cơ sở lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ giữa chính sách thắt chặt tiền tệ và hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, chương này còn bổ sung thêm lý thuyết và những kết quả nghiên cứu về các yếu tố hạn chế tài chính, cơ cấu sở hữu Nhà nước đến mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, nắm giữ tiền mặt và quyết định đầu tư. Từ đây, các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày chi tiết dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của nắm giữ tiền mặt đến mối quan hệ giữa chính sách thắt 5 chặt tiền tệ và hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, chương này còn trình bày kết quả phân tích cụ thể những tác động này có sự khác biệt ra sao giữa các công ty khác nhau về mức độ hạn chế tài chính và cơ cấu sở hữu Nhà nước. Chương 5: Kết luận, chương này đúc kết những phát hiện của bài nghiên cứu, nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất gợi ý cho các nghiên cứu sau này.
6 CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2.1 Khung lý thuyết Chính sách tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Trung ương sử dụng chính sách tiền tệ để để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua của tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 viết: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Chính sách tiền tệ còn là công cụ để kiểm soát hệ thống các ngân hàng cũng như tổ chức tín dụng.
Một trong những vai trò chính của Ngân hàng Trung ương là thực hiện chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và quản lý sự biến động của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ của các Ngân hàng Trung ương đã có những thay đổi lớn trong vài thập kỷ gần đây. Theo Mishkin (2013), kể từ cuối những năm 1980, kiểm soát lạm phát trở thành mục tiêu hàng đầu cho chính sách tiền tệ ở nhiều khu vực. Ngân hàng trung ương ở Canada, EU, Anh, New Zealand và nhiều quốc gia khác đã thiết lập mức lạm phát mục tiêu.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các Ngân hàng Trung ương ở các nền kinh tế tiên tiến đã nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách giảm lãi suất cho đến khi lãi suất ngắn hạn gần bằng 0. Với nguy cơ giảm phát gia tăng, những chính sách tiền tệ phi truyền thống đã được các Ngân hàng Trung ương đưa vào thực hiện, bao gồm mua trái phiếu dài hạn (đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Anh, khu vực đồng Euro và Nhật Bản) với mục đích giảm lãi suất dài hạn và nới lỏng tiền tệ. Một số Ngân hàng Trung ương thậm chí đã thiết lập lãi suất ngắn hạn dưới mức không. 7 Mishkin (2013) tổng hợp chính sách tiền tệ của các quốc gia nhìn chung đều tập trung vào 6 mục tiêu cơ bản, đó là: ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định ngoại hối.
Mục tiêu thứ nhất là ổn định giá cả. Đây được xem là mục tiêu cơ bản của đa số các Ngân hàng Trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Trong những thập kỷ qua, các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới ngày càng nhận thức rõ hơn ảnh hưởng về mặt kinh tế và xã hội của lạm phát, cũng như quan tâm nhiều hơn đến việc duy trì mức giá ổn định. Sự ổn định về giá được định nghĩa là lạm phát ở mức thấp và ổn định, xuất phát từ mong muốn kiểm soát mức giá do mức giá tăng lạm phát tạo ra tính bất ổn cho nền kinh tế và có thể dẫn đến cản trở tăng trưởng kinh tế.
Minh chứng rõ nét về tác hại của lạm phát có thể thấy qua những cuộc siêu lạm phát mà Argentina, Brazil, Nga và Zimbabwe đã trải qua. Ngoài ra, lạm phát còn cản trở việc dự phóng ngân sách cho tương lai và có thể là nguyên nhân dẫn đến xung đột: những nhóm người trong xã hội cạnh tranh lẫn nhau nhằm đảm bảo thu nhập của họ theo kịp mức tăng giá. Trong quá trình thực hiện lạm phát mục tiêu, lãi suất và cung tiền là hai công cụ đắc lực cho Ngân hàng Trung ương nhằm theo dõi diễn biến nền kinh tế và có những điều chỉnh phù hợp. Mục tiêu thứ hai của chính sách tiền tệ là tạo công ăn việc làm, xuất phát từ hai lý do chính: thất nghiệp cao là nguồn gốc gây ra nghèo đói trong xã hội, đồng thời thất nghiệp cao đồng nghĩa có những nguồn tài nguyên dư thừa như nhà máy đóng cửa, máy móc thiết bị ngưng hoạt động, sản xuất đình trệ dẫn đến sản lượng giảm đi, tức GDP thấp xuống.
Mục tiêu tạo công ăn việc làm không phải là đưa tỷ lệ thất nghiệp về bằng 0, mà là về một mức mà tại đó cung lao động bằng với cầu lao động, các nhà kinh tế gọi mức thất nghiệp này là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Mục tiêu thứ ba của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu này có liên quan mật thiết đến mục tiêu tạo công ăn việc làm, bởi vì khi tỷ lệ thất nghiệp thấp thì các công ty thường sẽ đầu tư vốn nhiều vào thiết bị để tăng năng suất, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương có thể đặc biệt 8 thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như trực tiếp khuyến khích các công ty đầu tư, khuyến khích người dân tiết kiệm, cung cấp nhiều vốn hơn cho các công ty đầu tư.
Ngược lại, nếu tỷ lệ thất nghiệp cao thì nhiều nhà máy không hoạt động, các chủ công ty sẽ không đầu tư thêm vào máy móc thiết bị để cải thiện năng suất, từ đó nền kinh tế cũng trở nên trì trệ hơn. Mục tiêu thứ tư của chính sách tiền tệ là ổn định lãi suất, xuất phát từ việc biến động của lãi suất có thể tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế và gây khó khăn cho công ty trong việc lập kế hoạch tương lai. Sự biến động của lãi suất tạo ra tính bất ổn trong hoạt động của các tổ chức tài chính. Mục tiêu thứ năm là ổn định thị trường tài chính.
Những cuộc khủng hoảng tài chính với hậu quả kéo dài đã cho thấy vai trò quan trọng của mục tiêu này. Ổn định thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cả nhà đầu tư và người gửi tiền, giúp cải thiện hiệu quả của các trung gian tài chính, là cơ sở để phát triển hệ thống tài chính lành mạnh. Mục tiêu thứ sáu là ổn định thị trường ngoại hối. Mục tiêu này đặc biệt quan trọng ở các quốc gia phụ thuộc nhiều vào ngoại thương.
Việc ngăn chặn những biến động lớn trong trị giá đồng tiền có thể giúp các công ty có thể dự phóng kế hoạch tài chính tương lai chính xác hơn, từ đó ổn định hoạt động của công ty mình. Tùy tình hình nền kinh tế từng thời kỳ mà Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt hay mở rộng. Chính sách tiền tệ mở rộng được thực hiện thông qua việc Ngân hàng Trung ương gia tăng mức cung tiền trong nền kinh tế, lãi suất giảm xuống, qua đó tổng cầu tăng lên, dẫn đến quy mô nền kinh tế được mở rộng, thu nhập tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm. Ngược lại, Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm giảm bớt lượng cung tiền, lãi suất tăng lên, từ đó tổng cầu thu hẹp lại và làm mức giá chung giảm xuống.
Một số công cụ truyền thống để thực hiện chính sách tiền tệ thường được sử dụng bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất tái cấp vốn. Ở các quốc gia phát triển, chẳng hạn như Mỹ, công cụ được sử dụng phổ biến nhất là hoạt 9 động thị trường mở. Hoạt động thị trường mở diễn ra khi Ngân hàng Trung ương bán hoặc mua trái phiếu kho bạc để tác động đến lượng dự trữ của ngân hàng và mức lãi suất. Mục tiêu của hoạt động thị trường mở ở Mỹ là điều chỉnh lãi suất liên bang – là lãi suất qua đêm mà các ngân hàng thương mại cho vay lẫn nhau - một mức lãi suất rất ngắn hạn nhưng là một công cụ phản ánh điều kiện tín dụng trên thị trường tài chính rất chính xác.
Khi Ngân hàng Trung ương mua trái phiếu, tiền đổ từ Ngân hàng Trung ương sang các ngân hàng thương mại, làm tăng cung tiền trong lưu thông. Khi Ngân hàng Trung ương bán trái phiếu, thì tiền từ các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế chảy vào Ngân hàng Trung ương do đó giảm lượng tiền trong nền kinh tế. Công cụ thứ hai để thực hiện chính sách tiền tệ là Ngân hàng Trung ương tăng hoặc giảm dự trữ bắt buộc. Dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tiền gửi mà pháp luật yêu cầu các ngân hàng thương mại phải giữ ở Ngân hàng Trung ương.
Ngân hàng trung ương yêu cầu dự trữ càng nhiều thì lượng tiền còn lại để cho vay ở ngân hàng thương mại sẽ càng ít. Ở Mỹ, sau sự kiện hủng hoảng tài chính năm 1907 khi nhiều ngân hàng phá sản vì bị rút tiền hàng loạt, Cục Dự trữ Liên bang (FED) được thành lập như là một kết quả của cuộc khủng hoảng, để trở thành “người cho vay cuối cùng” cho các ngân hàng thương mại.