ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi vịt thịt rất phổ biến ở miền Nam nước ta đặt biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long, nghề chăn nuôi này đã tận dụng được nhiều thức ăn thiên nhiên để sản xuất ra khối lượng thịt đáng kể phục vụ cho người tiêu dùng và xuất khẩu. Trong các loại gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) vịt là giống lớn nhanh, muốn tăng trọng lượng sơ sinh lên 40 lần thì gà cần phải nuôi 120 ngày, ngan ngỗng cần nuôi 80 ngày, trong khi vịt chỉ cần 60 ngày. Nguồn thức ăn của vịt đơn giản, dễ tìm, nếu biết tận dụng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà chăn nuôi. Lục bình là một loại cây thân cỏ, sống nổi trên mặt nước, có rất nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, thường gây cản trở giao thông đường thủy.
Hiện nay người ta đã nghiên cứu và tận dụng cây lục bình làm thức ăn bổ sung vào khẩu phần cho gia súc gia cầm như trâu, bò, dê, heo.là tăng tính ngon miệng, giảm chi phí thức ăn. Dựa vào tập tính thích ăn rau cỏ tự nhiên của vịt và một số thành phần có trong cây lục bình như: chứa hầu hết các acid amin không thay thế, giàu vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng.(Nguyễn Văn Thưởng,1992), đề tài “ Ảnh hưởng của các mức bổ sung lục bình trong khẩu phần trên tăng trọng của vịt thịt giai đoạn 21 đến 56 ngày tuổi” nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của cây lục bình lên sinh trưởng của vịt thịt, đồng thời tìm ra mức bổ sung lục bình thích hợp cho vịt và tận dụng nguồn thức ăn phong phú sẵn có này để nâng cao hiệu quả kinh tế cho nghề chăn nuôi vịt thịt. - 10 - CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 CÂY LỤC BÌNH Cây lục bình (Eichhornia crassipes) mọc hoang rất phổ biến ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, là loài cỏ đa niên, là thực vật thủy sinh xâm hại các dòng chảy chính trên các mặt nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hằng năm nhiều địa phương phải chi một khoảng kinh phí và nhân lực rất lớn để thu gom lục bình, làm sạch các dòng chảy cho sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Hữu Trí, 2007).
Đối với người dân vùng sông nước, cây lục bình gần gũi như một người bạn, vừa làm sạch môi trường, vừa là thức ăn cho gia súc (Đoàn Hạnh, 2007). Theo Hàn Sơn Đỉnh (2008) thì nước ép lục bình được ủ để sản xuất gas đun nấu, xác lá và thân lục bình được phơi khô dùng làm chất nền trồng nấm, rễ lục bình dùng để sản xuất phân. Ngoài ra, xác lá và thân lục bình cũng được ủ chua để làm thức ăn cho gia súc. Tuy nhiên, lục bình dày đặc làm cản trở dòng chảy và gây khó khăn cho các phương tiện tham gia đường thủy, làm nghẹt các điểm lấy nước tưới tiêu, nơi trú ngụ cho muỗi sinh sôi gây bệnh cho con người.
Do lục bình sinh sản rất nhanh làm cho lớp thực vật dưới nước rất khó sống sót gây nên sự mất cân bằng hệ thống sinh thái nhỏ trong nước dẫn tới việc một số loài động vật tồn tại nhờ vào sự đa dạng của thực vật bị cạn kiệt dần. Một số nơi người dân cho đã dùng thuốc diệt cỏ để diệt lục bình làm cho môi trường nước càng trở nên ô nhiễm.1: Thành phần dinh dưỡng của bèo lục bình Chỉ tiêu VCK CP EE CF NFE Ca P Giá trị 7,5 16,1 4,2 20,1 43,2 1,4 0,9 Lê Ngọc Mẫn (1994) Bảng 2.2: Hàm lượng caroten trong cuống lá bèo lục bình đang sinh trưởng Trạng thái VCK Tươi Khô hoàn toàn Bột cỏ Giá trị (mg/kg) 7,4 32,7 439,3 302,2 Huỳnh Thị Thảo (1994) Bảng 2.3: Một số acid amin có trong lục bình Acid amin (g/g protein) Lá Thân - 11 - Asparagine 13,6 3,4 Threonine 7,3 1,6 Serine 7,3 1,8 Glutanine 15,0 3,0 Glycine 15,1 3,2 Alanine 13,4 2,9 Valine 10,1 2,0 Iso Leucine 7,2 1,4 Leucine 13,2 2,7 Phenylalanine+Tyrosine 10,3 1,9 Histidine 2,6 0,6 Lysine 6,4 1,6 Argine 5,7 1,1 Proline 8,1 1,7 Lareo L and R, Bressani (1982).4: Hàm lượng vi lượng của lục bình Chỉ tiêu VCK Kẽm Mangan Đồng Sắt (g/kg) (mg/kg) (mg/kg) (mg/kg) (mg/kg) Giá trị 60,0 7,1 32,8 0,8 60,3 Viện Chăn Nuôi Quốc Gia (2000). Có thể sử dụng lục bình cho gia súc khi thiếu thức ăn xanh. Lượng chất khô thấp (6 đến 7%), lượng xơ cao (trên 200 g/kg), khoáng tổng số cũng cao (180 đến 190 g/kg chất khô) nên giá trị năng lượng thấp (1800 đến 1900 kcal) ứng với 7,6 đến 8,0 MJ/kg chất khô (Nguyễn Văn Thưởng, 1992).
Nông dân tận dụng nguồn lục bình sẵn có ở địa phương và phụ phẩm của trồng trọt như tấm, cám kết hợp với thức ăn công nghiệp chất lượng cao để tạo ra hỗn hợp thức ăn có giá trị cao, giá thành thấp mà có hiệu quả để nuôi heo nhằm tăng tính ngon miệng và giảm chi phí thức ăn. Lục bình được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi bò, dê, heo, ở trạng thái tươi, ủ chua hay nghiền thành bột lá (Huỳnh Văn Thuấn, 2008). Theo Lê Thị Mến etal. (2002) khi sử dụng lục bình ở mức độ 1%, 3%, 5% trong khẩu phần trạng thái VCK kết quả: độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có khuynh hướng cải thiện ở các khẩu phần ăn cao lục bình, chất lượng đạm trong cơ thăn thịt heo cao hơn, độ mềm của mỡ heo giảm đáng kể khi heo ăn nhiều lục bình.
Hiệu quả về mặt thức ăn đạt cao hơn 9-12% khi khẩu phần TA có sử dụng 3% và 5% lục bình. Lục bình tươi hay ủ chua có thể thay thế rơm trong chăn nuôi gia súc nhai lại, mức thay thế bằng lục bình tươi 60% cho kết quả tốt trên trâu ta (Huỳnh Văn Thuấn, 2008).2 MỘT SỐ GIỐNG VỊT THỊT HIỆN NUÔI Ở VIỆT NAM 2.1 Vịt CV Super M và vịt lai Là giống vịt chuyên dụng cao sản được tạo ra ở công ty Cherry Valley (nước Anh) năm 1976. Hiện nay vịt được phát triển mạnh mẽ gần 100 nước trên thế giới. Vịt CV Super M được nhập vào Việt Nam năm 1989 và được nuôi rộng rãi ở khắp hai miền Nam và miền Bắc.
Vịt giống và vịt thương phẩm nuôi công nghiệp hay bán công nghiệp đều có tỷ lệ nuôi sống cao 96 đến 97%, tỷ lệ này có phần nào cao hơn tỷ lệ nuôi sống của các giống vịt khác (Lê Hồng Mận, 2001). Vịt có màu lông trắng tuyền, mỏ và chân màu vàng da cam. Ngoại hình đặc trưng cho vịt hướng thịt: thân hình chữ nhật, ngực sâu, rộng, đầu to, lưng phẳng, cổ to dài, chân ngắn và vững chắc. Trong chăn nuôi vịt thương phẩm nuôi tập trung, thời gian nuôi thường kéo dài đến 56 ngày tuổi, vịt có thể đạt thể trọng từ 2,8 đến 3,2 kg và có tỷ lệ thịt xẻ từ 74 đến 76%.
Tiêu tốn thức ăn để sản xuất ra mỗi kg tăng trọng (kg thịt hơi) cần phải cung cấp từ 2,77 kg đến 2,81 kg thức ăn hoặc phải tốn 3,86 kg thức ăn cho 1 kg thịt xẻ. Vịt CV Super M vốn là một giống vịt cao sản, thích hợp với điều kiện chăn nuôi thâm canh tập trung, nhưng trong điều kiện chăn nuôi chăn thả có bổ sung (bán thâm canh) vịt vẫn cho năng suất khá cao, lúc 75 ngày tuổi, vịt đạt khối lượng 2,8 kg đến 3,2 kg. Thức ăn bổ sung có mức tiêu tốn cho một kg thịt hơi khoảng từ 1,8 kg đến 2,0 kg. Vịt đực CV Super M được sử dụng để lai với các giống vịt hiện đang nuôi ở các địa phương và cho kết quả con lai cũng cho năng suất thịt cao.
Ở miền Nam, vịt lai CV Super M trong điều kiện chăn nuôi chăn thả, lúc 75 ngày đến 90 ngày tuổi cũng đạt 2,7 kg đến 2,9 kg (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2002).5: Sự sinh trưởng của vịt SM2 thương phẩm và tiêu tốn thức ăn ở các giai đoạn Tiêu tốn Sinh trưởng Sinh trưởng Khối lượng thức ăn/kg Tuần tuổi Số con tương đối tuyệt đối vịt (g) tăng trọng (%) (g/con/ngày) (kg) Mới nở 36 50,52 - - - 2 36 487 163,28 33,09 - 4 36 1353 90,01 60,23 1,77 6 35 2424 57,26 77,85 2,08 7 34 3234 27,67 112,33 2,27 8 35 3242 0,21 0,97 2,76 Nguyễn Đức Trọng (2007) - 13 - Với đàn vịt nền Nông Nghiệp đại trà, những năm 1990 giống vịt CV Super Meat được FAO tài trợ và đưa vào nuôi thử nghiệm và lai kinh tế với đàn vịt hiện có đã năng cao năng suất vịt lên từ 2,2 kg/con đến 2,7 kg/con. Theo kết quả điều tra của Viện Khoa Học Miền Nam, năng suất vịt thịt ở các giống lai này đạt như sau: Vịt Nông Nghiệp : 2,0 đến 2,5 kg/con Vịt Tiệp : 2,4 đến 2,6 kg/con Vịt CV Super Meat : 2,2 đến 2,9 kg/con Vịt có màu lông trắng và dầy, đầu to vừa phải, chán dốc mỏ ngắn hơi dẹp. Mỏ vàng hay vàng nhạt, cổ nhỏ dài, thân hình hơi dẹp. Ngực hẹp và bụng sâu vừa phải, chân vàng dáng đi nặng nề và chậm chạm (Trần Quốc Anh, 2001).
Vịt có nguồn gốc theo sơ đồ lai 1 được nuôi tại trại vịt Đại Xuyên của Viện chăn nuôi Quốc gia (Hoàng Thị Lan, 2007) như sau. Sơ đồ lai 1 Dòng thuần Dòng trống Dòng mái T1 & T5 T4 & T6 Ông bà ♂T1 x ♀T5 ♂T5 x ♀T1 ♂T4 x ♀T6 ♂T6 x ♀T4 Cha mẹ ♂T15 ♂T51 ♀T46 ♀T64 Vịt lai T1546 T1564 T5146 T5164 thương phẩm (T: ký hiệu các dòng vịt giống của trại vịt Đại Xuyên) Sơ đồ 1: Vịt lai thương phẩm 4 máu của giống Super M tại trại vịt Đai Xuyên Vịt lai có tỉ lệ nuôi sống cao 95% đến 100%. Có thể thấy được khả năng sinh trưởng của các dòng vịt lai qua nghiên cứu cuả Hoàng Thị Lan et al. (2007) tại trại vịt Đại Xuyên của Viện chăn nuôi Quốc gia qua bảng 2.
Con lai của 4 tổ hợp lai trong bảng 2.6 đều cho kết quả tăng trọng khá cao và thích hợp cho việc tạo giống nhằm nâng cao năng suất của đàn vịt thương phẩm.6: Khối lượng cơ thể và năng suất của các tổ hợp lai Tổ hợp lai Chỉ tiêu T1546 T1564 T5146 T5164 Thể trọng mới nở, g 51,09 52,00 50,20 51,50 Thể trọng 4 tuần tuổi, g 1497,82 1495,2 1526,36 1584,94 Thể trọng 6 tuần tuổi, g 2339,78 2343,94 2410,18 2439,20 Thể trọng 7 tuần tuổi, g 2798,70 2796,42 2855,41 2915,48 Thể trọng 8 tuần tuổi, g 2984,48 2957,49 3061,81 3083,27 Tỉ lệ thịt xẻ, % 72,65% 69,70% 70,39% 70,39 Hệ số chuyển hoá 2,77 2,75 2,72 2,77 Hoàng Thị Lan (2007) Vịt có nguồn gốc theo sơ đồ lai 2 được nuôi tại trại giống VIGOVA của Viện chăn nuôi (Dương Xuân Tuyển, 2006).