CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lãi suất và biến động của lãi suất trong nền kinh tế 1. Khái niệm và phân loại lãi suất 1. Khái niệm lãi suất Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là biến số luôn được chủ thể quan tâm vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về lãi suất: Theo Kark Mar: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”. Theo quan điểm của Keynes: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay. Là phần thưởng cho sở thích chi tiêu tư bản, lãi suất đó còn gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ”. Về định lượng: Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu.
Tóm lại: “Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng số tiền ấy trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước”. Phân loại lãi suất a. Phân loại theo nguồn sử dụng - Lãi suất huy động: Là loại lãi suất quy định lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng. - Lãi suất cho vay: Là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay.
Về mặt lý thuyết, các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân của đối tượng đầu tư và thời hạn cho vay. Tuy nhiên với ý nghĩa là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế điều đó không phải bao giờ cũng đúng, vì nó còn phụ thuộc vào mục tiêu chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Phân loại theo giá trị thực của tiền lãi thu được - Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate): Là lãi suất được xác định cho mỗi kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thỏa thuận trước. - Lãi suất thực (real interest rate): Là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi được trả hoặc thu được.
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan trọng, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với người có tiền nhờ đoán được lãi suất thực mà họ quyết định gửi tiền vào ngân hàng hay mang đi kinh doanh trực tiếp. Đối với người cần vốn nếu dự đoán được tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng không bằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ. Phân loại theo phương pháp tính lãi Lãi suất đơn: Là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp. Lãi suất đơn = Số tiền lãi / Số tiền gốc * 100% Lãi suất kép: Là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi mẹ đẻ lãi con).
Công thức: I = (1+i)1/t -1 I: Lãi suất tại thời điểm t i: Lãi suất đơn hàng năm t: Chu kỳ tính lãi suất d. Phân loại theo loại tiền - Lãi suất nội tệ: Là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ (kể cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay). - Lãi suất ngoại tệ: Là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng ngoại tệ. Mối liên hệ giữa hai loại lãi suất này được thể hiện qua phương trình: rd = rf + ΔE Trong đó: rd là lãi suất nội tệ, rf là lãi suất ngoại tệ, ΔE là mức tăng giá dự tính của tỷ giá hối đoái (hay đồng ngoại tệ).
Phương trình này là biểu hiện của Học thuyết ngang giá sức mua. Tuy nhiên, phương trình trên chỉ tồn tại trong điều kiện chế độ tự do ngoại hối, tức là được tự do chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ và ngược lại. Nếu quản lý ngoại hối chặt chẽ thì sẽ vẫn tồn tại chênh lệch vì vốn không chuyển đổi giữa hai loại tiền được e. Phân loại theo độ dài thời gian - Lãi suất ngắn hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm.
- Lãi suất trung hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. - Lãi suất dài hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Thị trường tiền tệ và sự thay đổi của lãi suất 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thị trường tiền tệ “Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, giao dịch các loại vốn ngắn hạn.
Hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tính dụng khác”. Mục đích của thị trường tiền tệ là tạo điều kiện cho việc chuyển giao các nguồn vốn ngắn hạn từ các đại lý có nguồn vốn dư thừa (tổng công ty, các tổ chức tài chính, cá nhân, chính phủ) tới những người tham gia trên thị trường mà thiếu vốn có thể nhận được với nhu cầu trong ngắn hạn. Ngoài ra, nó còn đóng vai trò trung tâm trong hệ thống tài chính của đất nước. Đối với các tổ chức tài chính và phạm vi một số công ty phi tài chính khác thì thị trường tiền tệ cho phép thực hiện các chức năng như sau: nâng nguồn quỹ, quản lý tiền mặt, quản lý rủi ro, đầu cơ hoặc định vị tài chính, tín hiệu hóa, cung cấp quyền truy cập vào thông tin về giá Cuối cùng, thị trường tiền tệ bị ảnh hưởng bởi những tác động từ bên ngoài như tăng tính thanh khoản dòng vốn, thay đổi cơ chế tỉ giá hối đoái, làm giảm bớt quyền tự chủ chính sách tiền tệ.
Những thay đổi trong thị trường tiền tệ trong các nước châu Âu chính là quá trình hình thành liên minh EU, sự xuất hiện của liên minh EU và đồng tiền chung châu Âu EUR 1. Các yếu tố tác động làm thay đổi lãi suất Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường. Vì vậy mà lãi suất chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều các nhân tố khác đó là: ● Cung- cầu về tiền: Công cụ để phân tích là đường cung và đường cầu về tiền. Đường cung tiền là đường thẳng đứng (cung cố định) trên cơ sở cho rằng NHTW sử dụng các công cụ của nó đã cung ứng cho thị trường một mức cung tiền theo dự kiến.
Đó là khối lượng tiền xác định cho mọi mức lãi suất i (với giả định giá cả không thay đổi nên lãi suất danh nghĩa i cũng chính là lãi suất thực tế của nó). Đường cầu về tiền là đường dốc nghiêng đi xuống, biến thiên giảm theo lãi suất. Tác động qua lại giữa cung tiền và cầu tiền xác định lãi suất cân bằng gọi là lãi suất thị trường. Đó là giao điểm E.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hình 1.1: Cân bằng của thị trường tiền tệ Hình 1.1cho biết, E là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ Tại mức lãi suất cân bằng mức cầu tiền vừa đúng bằng mức cung tiền Ở mức lãi suất thấp hơn sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu giảm xuống và đẩy lãi suất thị trường lên tới. Sự dịch chuyển đường cung và đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị trường tiền tệ. Khi NHTW tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm, đường cung tiền dịch chuyển từ sang và lãi suất cân bằng tăng từ lên .2: Lãi suất cân bằng Hình1.2 cho biết: Giảm cung tiền từ đến dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức dư cầu tiền do mức cung tiền giảm đi. Khi thu nhập thực tế (GNP) tăng lên, nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên.
Với mỗi mức lãi suất, lợi ích cận biên của việc gửi tiền tăng lên và làm tăng mức cầu tiền thực tế, đường cầu tiền sẽ dịch chuyển từ L đến L. Với mức cung tiền , lãi suất cân bằng sẽ chuyển từ đến , điểm cân bằng mới của thị trường tiền tệ sẽ là. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc kiểm soát tiền tệ trong thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô thật không đơn giản. Có hai cách kiểm soát, hoặc là kiểm soát mức cung tiền thì lãi suất của thị trường sẽ lên xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất (ổn định lãi suất) thì buộc phải để thị trường quyết định mức cung tiền.
Cả hai cách đều gặp những khó khăn nhất định như khi kiểm soát lượng tiền cơ sở (H) thì vấp phải vấn đề hạn chế tiền mặt và tín dụng gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng thương mại và các hoạt động giao dịch, khi kiểm soát lãi suất lại gặp khó khăn trong việc nhận biết chính xác đường cầu tiền và sự dịch chuyển của nó. Việc lựa chọn kiểm soát mức cung tiền hay kiểm soát lãi suất tùy thuộc vào chính sách tiền tệ của mỗi nước. Lạm phát: Như ta đã biết, lạm phát luôn luôn ảnh hưởng đến lãi suất. Do đó với một lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực hiện việc vay tiền giảm xuống, nhu cầu về vốn tăng lên.
Mặt khác, khi lạm phát dự tính tăng lên thì lợi tức dự tính của các khoản tiền gửi giảm xuống. Những người cho vay lập tức chuyển vốn vào thị trường khác như bất động sản, vàng bạc hay dự trữ hàng hóa…Kết quả là lượng cung về vốn giảm đối với bất kì lãi suất nào cho trước. Như vậy, một sự thay đổi về lạm phát dự tính sẽ tác động đến cung cầu tư bản cho vay.