CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lãi suất và sự biến động của lãi suất trong nền kinh tế 1. Khái niệm và phân loại lai suất 1. Khái niệm lãi suất Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Lãi suất là giá mà người vay trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. Giáo trình Lí thuyết tiền tệ ngân hàng (2005,tr.63), Học viện Ngân hàng, Nxb Thống kê cho rằng:“ Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn”. Có nghĩa là nếu muốn sử dụng vốn vay của người khác thì phải trả cho họ một số tiền trong thời gian nhất định. Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng số tiền ấy trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước.
Có nghĩa là nếu muốn được sở hữu số tiền của người khác trong một thời gian và sử dụng số tiền ấy thì phải trả cho họ một khoản tiền là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay đó trong một khoảng thời gian nhất định. John Maynard Keynes lập luận trong cuốn sách The General Theory of Employment, Interest, and Money (1936) của ông rằng “ lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền. Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền”.Cái quy định lãi suất, nhất là trong ngắn hạn, chính là cung và cầu về tiền. Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi “lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư - và tiết kiệm”.Theo đó có nghĩa là lãi suất được sinh ra bởi nhu cầu tiết kiệm của người cho vay với nhu cầu về vốn đầu tư nhằm tăng năng suất của người đi vay.
Từ những cơ sở trên cũng như trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa: “Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng số tiền ấy trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước”. Phân loại lãi suất a) Phân loại theo nguồn sử dụng - Lãi suất huy động: Là loại lãi suất quy định lãi phải trả cho các hình thức nhận tiền gửi của khách hàng. - Lãi suất cho vay: Là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải trả cho người cho vay. Về mặt lý thuyết, các mức lãi suất cho vay khác nhau được căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân của đối tượng đầu tư và thời hạn cho vay.
Tuy nhiên với ý nghĩa là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế điều đó không phải bao giờ cũng đúng, vì nó còn phụ thuộc vào mục tiêu chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. b) Phân loại theo giá trị thực - Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất được xác định cho mỗi kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thỏa thuận trước. - Lãi suất thực: Là loại lãi suất xác định giá trị thực của các khoản lãi được trả hoặc thu được. Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quan trọng, đối với người có tiền nhờ đoán được lãi suất thực mà họ quyết định gửi tiền vào ngân hàng hay mang đi kinh doanh trực tiếp.
Đối với người cần vốn nếu dự đoán được tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng không bằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ. c) Phân loại theo phương pháp tính lãi - Lãi suất đơn: Là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay ban đầu không gộp lãi vào tiền vay ban đầu để tính lãi thời hạn kế tiếp. Lãi suất đơn = Số tiền lãi / Số tiền gốc * 100% - Lãi suất kép: Là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền vay, số tiền vay này tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kỳ cho vay (lãi mẹ đẻ lãi con). 8 Luan van - Lãi suất ngoại tệ: Là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng ngoại tệ.
e) Phân loại theo độ dài thời gian - Lãi suất ngắn hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay ngắn hạn, có thời hạn dưới 1 năm. - Lãi suất trung hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. - Lãi suất dài hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Thị trường tiền tệ và sự thay đổi của lãi suất 1.
Thị trường tiền tệ Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn ( dưới 1 năm ) , nơi diễn ra các hoạt động của cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao gồm cả giấy tờ có giá ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ Việt Nam được hình thành vào những năm 90 của thế kỷ XX cùng với bước chuyển mình mạnh mẽ của ngành ngân hàng Việt Nam từ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân hàng hai cấp.
Đến nay, thị trường tiền tệ Việt Nam đã dần phát triển, từ những giao dịch cho vay đơn thuần giữa các ngân hàng, từ những hàng hóa đơn giản, số lượng thành viên ít ỏi, thị trường tiền tệ đã tăng trưởng cả về quy mô lẫn doanh số, cơ sở hạ tầng cho hoạt động thì trường ngày càng hoàn thiện… qua đó thị trường tiền tệ đã thực sự trở thành kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ hữu hiệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và là nơi điều tiết vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng. Đến nay, có thể nói, thị trường tiền tệ đã bước đầu hình thành đồng bộ các cấu phần của thị trường.Mặc dù mới phát triển chưa lâu nhưng về cơ bản, thị trường tiền tệ Việt Nam đã hình thành tương đối đồng bộ. Hệ thống công cụ tài chính của thị trường đã được hình thành tương đối đầy đủ như tín phiếu, trái phiếu Chính phủ; tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính quyền địa phương. Các thành viên của thị trường ngày càng đông đảo về số lượng, đa dạng về loại hình và tính chuyên nghiệp được nâng lên.NHNN tham gia thị trường tiền tệ với vai trò vừa là một thành viên thị trường vừa là cơ quan quản lý.Với tư cách là một thành viên thị trường, NHNN tham gia thị trường tiền tệ thông qua phát hành tín phiếu NHNN và tham gia mua, bán giấy tờ có giá với tổ chức tín dụng thông qua nghiệp vụ thị trường mở.
Với tư cách là cơ quan quản lý, NHNN thực hiện ban hành khuân khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường 9 Luan van tiền tệ và theo giõi, giám sát, kiểm soát hoạt động của thị trường tiền tệ để phục vụ mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các yếu tố tác động làm thay đổi lãi suất - Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ: Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi suất trên thị trường. Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào các quy định của chính phủ và NHTƯ, song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất. Công cụ để phân tích là đường cung và đường cầu về tiền.
Đường cung tiền là đường thẳng đứng (cung cố định) trên cơ sở cho rằng NHTƯ sử dụng các công cụ của nó đã cung ứng cho thị trường một mức cung tiền theo dự kiến. Đó là khối lượng tiền xác định cho mọi mức lãi suất i ( với giả định giá cả không thay đổi nên lãi suất danh nghĩa i cũng chính là lãi suất thực tế của nó). Đường cầu về tiền là đường dốc nghiêng đi xuống, biến thiên giảm theo lãi suất. Tác động qua lại giữa cung tiền và cầu tiền xác định lãi suất cân bằng gọi là lãi suất thị trường.
Đó là giao điểm E. Cân bằng của thị trường tiền tệ i Lãi suất MS i0 E LP 0 M0 M Hình 1.1 cho biết: E là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ Tại mức lãi suất cân bằng i 0 mức cầu tiền vừa đúng bằng mức cung tiền Ở mức lãi suất thấp hơn i 0 sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu giảm xuống và đẩy lãi suất thị trường lên tới i0. Sự dịch chuyển đường cung và đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị trường tiền tệ. Khi NHTƯ tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm, đường cung tiền dịch chuyển từ M 0 sang M 1 và lãi suất cân bằng tăng từ i 0lên i 1.
Lãi suất cân bằng 10 Luan van i M S1 M S0 i2 E 2 i 1 E1 i0 E L P1 L P0 M1 M0 M Hình 1.2 cho biết: Giảm cung tiền từ M 0 đến M 1 dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức dư cầu tiền do mức cung tiền giảm đi.