Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây lựu 1.1 Nguồn gốc và phân loại, phân bố, công dụng Cây lựu, Punica granatum L., thuộc Chi Punica. Chi Punica được biết đến trước hết là loài lựu ăn quả. Ngoài ra, còn một loài khác là P. protopunica Balff mọc hoang dại ở vùng Nam Á hay Trung Á, nhưng ít được nhắc tới (Guarino và cs, 1990).
Melgarejo and Martinez (1992) đã phát hiện thêm loài P. nana Pers là loài thứ ba thuộc chi Punica, loài này có hoa rat đẹp và quả nhỏ không ăn được nên chỉ trồng làm cảnh. Hiện nay, cây lựu phân bó rộng khắp vùng Địa Trung Hải và những khu vực có điều kiện khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới; được trồng phố biến ở Trung Đông, Kavkaz, Bắc Phi, An Độ (đến nay các nước này van là nơi có diện tích trồng lựu nhiều nhấp), Trung A, Đông Nam A, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Úc. Trong những năm gần đây, trái lựu đã trở nên phố biến hơn trong các thị trường thương mại của châu Au và phương Tay (Ferrara và cs, 2020).
Theo Djavakyants (2011), cây lựu là cây ưa sáng, sinh trưởng tốt ở các khu vực có độ cao từ 300 — 1.800 m so với mực nước biển, có biên độ sinh thái rộng; nhiệt độ thấp nhất không dưới —12°C, nhiệt độ cao nhất không quá 40°C và khoảng nhiệt độ tối hảo từ 20 — 25°C. Theo Đỗ Huy Bich và cs (2006), ở Việt Nam lựu được trồng nhiều tại các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ dé làm cảnh kết hợp lay qua ăn và làm thuốc. Cây lựu ít bi sâu bệnh hại, có thé trồng trên nhiều loại đất, có khả năng chịu hạn tốt, chịu ứng kém; thường được trồng bằng hạt hoặc cành chiết, rụng lá mùa đông; ra hoa tháng 5 — 6, có qua tháng 7 — 8, nếu bị che bóng ảnh hưởng đậu quả Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), hầu hết các bộ phận của cây lựu đều được sử dụng như: vỏ cây, vỏ rễ, thịt quả. Vỏ rễ và rễ có vị dang, chat, tinh ấm, có duoc tính, chứa hàm lượng tanin cao khoảng 2% và 0,5 — 0,7% alcaloid toàn phần trong đó có pelletierin, isopelletierin, methyl pelletierin va pseudo pelletierin có tác dụng khử trùng, trừ san.
Vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chứa granatin, acid betulic, acid ursolic va isoquercetin có tac dung sát trùng chi tả, chi huyết, khử trùng. Dịch qua tươi làm mát, hat có chứa acid citric, acid malic, glucose, fructose và maltose. Thịt quả được dùng trợ tim, giúp tiêu hóa. Hoa dùng chữa viêm tai đề phòng chảy mủ.
Trái chống nhiễm siêu khuẩn (Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Phạm Hoàng Hộ, 1999).2 Đặc điểm hình thái Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), cây lựu trồng ở Việt Nam có chiều cao từ 5 — 6m. Thân thường san sùi, có vỏ mỏng, màu xám. Rễ trụ khỏe, hóa gỗ, màu nâu đỏ ở ngoải, màu vàng nhạt ở trong. Cành mảnh đôi khi có gai.
Lá mọc đối thường tụ lại thành cum lá, cuống ngắn, hình mác thuôn dài khoảng 5 — 6 cm, rộng 1 — 2 cm, đầu tù hoặc hơi nhọn, 2 mặt nhẫn. Lá kèm rất nhỏ, hình chỉ. Theo D6 Huy Bich và cs (2006), hoa lựu nở vào mùa hè, hình cái loa 5 cánh màu do, hoặc trang; mọc riêng rẽ hoặc thành xim có 3 hoa,hoa có cuống ngắn, dé hoa hình chuông mang 4 — 8 lá đài màu đỏ, cánh hoa bang số lá đài, xếp xen kẽ nhau. Bộ nhị gồm nhiều nhị rời.
Bộ nhuy gồm 8-9 lá noãn dính liền với dé hoa. Quả hình cau, đầu quả còn 4 — 5 lá đài tồn tại, vỏ dày chín có màu vàng đỏ lốm đốm; trong quả có 8 ngăn xếp thành 2 tầng, tầng trên 5 ngăn, tầng dưới 3 ngăn, các ngăn phân cách bởi các mảng mỏng trong có nhiều hạt hình 5 cạnh màu trắng hồng. Đoạn thân, cành được sử dụng để nhân giống bằng phương pháp giâm hom thường là hom hóa gỗ.2 Tình hình sản xuất cây lựu trên Thế giới và Việt Nam Theo thống kê của các tác giả Pienaar và Barends-Jones (2021), đăng trong tạp chí “Sự đóng góp của ngành lựu ở Nam Phi” diện tích trồng lựu của Thế giới năm 2019 là 835,950 ha tại năm 2019 với năng suất trái tươi đạt 8,1 triệu tan, năng suất trung bình đạt 9,69 tan/ha. Trong đó, Ấn Độ là nước sản xuất lựu lớn nhất thế ĐIỚI CÓ tổng sản lượng đạt 3,034,000 tan trên quy mô sản xuất là 262,000 ha.
Theo sau là Trung Quốc có tổng sản lượng đạt 1,697,100 tan trên quy mô sản xuất là 120,000 ha. Đồng thời với tổng sản lượng đạt 11,498 tan trên quy mô sản xuất là 94,000 ha, Iran là nước có sản lượng và diện tích trồng lựu lớn thứ 3 trên toàn Thế Giới. Như vậy, thống kế đến năm 2019 khoảng 70% diện tích trồng lựu trên thế giới đến từ ba nước An Độ, Trung Quốc và Iran chiếm khoảng 476,000 ha với năng suất trung bình là 10,8 tan/ha. Do nhu cầu nguồn cung các sản phẩm từ lựu gia tăng, cho nên, Tây Ban Nha, Mỹ (California) và nhiều nước khác cũng dang mở rộng vùng trồng lựu (Shokoohii và Asgari, 2021).
Tại Việt Nam, lựu được trồng nhiều tại khu vực Tây Nguyên, Nam bộ, đồng bằng Bắc bộ và hiện nay phát triển ở đồng bằng Sông Cửu Long. Ngành sản xuất lựu ở Việt Nam dù mới bắt đầu hình thành gần đây như có nhiều triển vọng phát triển (Nguyễn Bảo Vệ, 2022). Dé đảm bảo tính bền vững và lợi nhuận trong ngành sản xuất lựu, yếu tô chat lượng cây giống cần được chú trọng, vì vậy, nghiên cứu về phương pháp nhân giống được thực hiện.3 Các phương pháp nhân giống lựu pho biến Theo Singh (2020), cây lựu được nhân giống bằng hình thức gieo hạt, chiết cành, giâm cành, ghét mắt và nuôi cấy mô nhằm tránh các bệnh truyền nhiễm tiềm ân do vi khuẩn gây ra.1 Nhân giống hữu tính Nhân giống lựu bằng hạt vẫn được áp dụng tại một vài nước trên thế giới nhằm mục đích lai tạo giống hoặc dùng làm gốc ghép (Singh, 2020; Chandra và Babu, 2010). 5 Theo Levin (2006), tỷ lệ nảy mam của hạt lựu có sự dao động rat lớn từ 7 — 98%, thời gian nảy mầm của hạt từ 21 — 100 ngày phụ thuộc vào độ cứng của vỏ hạt, giống, thời vụ gieo hạt và thời gian tồn trữ hạt.
Theo NRCP (2007), khi quan sát khả năng nảy mam của hai giống lựu Bhagawa va Ganesh nhận thay: sự nảy mam bắt đầu diễn ra từ ngày thứ § — 10 sau khi gieo hạt và kéo dài cho đến ngày thứ 28; tỷ lệ nảy mầm của giống Bhagawa dao động từ 75,5 — 79,0% cao hơn giống Ganesh có tỷ lệ từ 61,5 — 67,5%. Hau như, tỷ lệ nảy mầm của các giống phổ biến từ 60 — 75%. Theo Jalikop (2003), tỷ lệ nảy mầm của các giống lựu lai F1 và F2 khác nhau đáng kẻ, tỷ lệ nảy mầm của hạt F2 từ 0,12 — 38,82%, tỷ lệ của giống F1 rất cao đạt 88,6%. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nảy mầm không đồng đều là do miên trạng và tính chất vật lý của hạt lựu (Silva và cs, 2016).2 Nhân giống vô tính 1.1 Chiết cành Chiết cành là biện pháp nhân giống cây lựu phố biến.
Phương pháp này dễ thực hiện nhưng hệ sô nhân giông thap va ảnh hưởng tiêu cực đền sinh trưởng của cây mẹ. Chiết cành: chọn những cành khỏe mạnh, sạch bệnh, hướng sáng, đường kính từ 0,8 — 1,5 cm tiến hành khoanh vỏ dài 2 — 3 cm; nên thực hiện trong mùa mưa (Singh, 2020). Theo nhiều nghiên cứu dé cành chiết ra rễ sớm và nhiều, sử dụng đớn lam giá thé kết hợp với chất điều hòa sinh trưởng IBA có nồng độ từ 1.000 ppm hoặc sử dụng IBA kết hợp với PHB (Hore và Sen, 1995; Bhosale và cs, 2009; Tomar, 2011; Chandra và cs, 2014). Tuy nhiên, cũng có thể sử dụng mùn cưa, tro, mụn dừa, bùn ao dé làm giá thể chiết cành lựu (Allioli và cs, 2001).
Cành chiết ra rễ trong khoảng 30 — 40 ngày và có thé cắt nhánh từ 60 — 75 ngày sau chiết, giá thé dùng dé sang bầu cây chiết gồm đất, cát, phân chuồng được trộn theo tỷ lệ 1:1:1 (tính theo thể tích). Đề khắc phục nhược điểm của phương pháp chiết cành, cần phải tiến hành khảo nghiệm biện pháp giâm cảnh.2 Giâm cành Nhân giống bang cách giâm cành là biện pháp nhân giống phổ biến tại các vùng trồng lựu trên thế giới (Barche và cs, 2009).1 Loại hom và các chất điều hòa sinh trưởng được sử dụng trong nhân giống lựu Thời gian Nong độ các chất điều Gibag Laạại tron xử lý hòa sinh trưởng (ppm) al Bassenin Hom gia 30 giay IBA 2.500 Reddy va không hat —5 phút Reddy, 1990 Bassein Hom gia 30 giay IBA 2.500 Reddy va không hat — 5 phút Reddy, 1990 Ganesh Hom gia, 30 giây IBA 5.000 Ghosh va cs, bánh té,non —5 phút 1988 Bedana Hom gia 30 giay PHB 1.500 Hore và Sen, — 5 phút 1995 Jalore Hom gia, 30 giây IBA 2.500 Saroj va cs, không hat banh té — 5 phút 2008 Ganesh, Hom gia 30 giay—5 PHB 1.000 Tripathi va Dholka phut Shukla, 2004 Bhagawa Hom gia 30 giây IBA 2.000 Sharma va cs, — 5 phút 2014 ME12; Hom gia 30 giây IBA 12.000 Melgarejo và cs, CR02' va —5 phut va 2000 PT08 vat góc Wonderful Hom gia 30 giây IBA 1.000 Sarrou va cs, — 5 phút 2014 (Nguôn: Singh và cs, 2020) Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, để giâm cành lựu thành công, có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bên trong như: giống, dinh dưỡng dự trữ, nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng nội sinh, kích thước và tuổi của hom giâm, vị trí lay cành trên cây me và các yêu tố bên ngoài như: cắt tỉa, bón phân, tưới tiêu, môi trường giâm cành và chất kích thích ra rễ (Chadha, 2001; Polat and Caliskan, 2006; Chandra và cs, 2014; Singh, 2017). Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhóm tác giả, sử dụng hom hóa gỗ (Reddy và Reddy, 1990; Sandhu và cs, 1991; Panwar và cs, 2001) có tỷ lệ thành công cao hơn hom nửa hóa gỗ (Deol và Uppal 1990; Panda và Das 1990) và hom còn non (Ghosh và cs, 1988; Patil và cs, 2002). Theo Chadha (2001), dé tăng cường khả năng ra rễ của hom giâm nên khoanh vỏ 1 tháng trước khi giâm.
Tuổi cành dưới 6 tháng hoặc già hơn 18 tháng, cành thứ cấp, cành dang ra hoa và mang trái không thích hợp dé giâm cành (Chadha, 2001). Hom nửa hóa gỗ có tỷ lệ nảy chồi cao nhưng kha năng hình thành và đâm rễ kém (Rajan và Markose, 2007).