CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu tổng quát Đầu tư chiến lược được định nghĩa là đầu tư có thể cung cấp lợi ích cho toàn bộ tổ chức chứ không phải chỉ ở bộ phận ra quyết định đầu tư (Milgrom and Rob- erts, 1992,p. Đầu tư chiến lược là một trong những quyết định quan trọng nhất mà doanh nghiệp ra quyết định vì nhiều khoảng đầu tư có thể tạo lợi thế cạnh tranh nhờ việc cắt giảm chi phí và tạo sự khác biệt trong sản phẩm (Porter, 1980, 1998; Makadok,2003). Trong hoàn cảnh lý tưởng như thông tin hoàn hảo và không có bất ổn, các công ty có thể tối đa hóa lợi nhuận từ việc xác định đầu tư tối ưu. Tuy nhiên trong thực tế thường rất khó để các công ty xác định được khoảng đầu tư tối ưu mà thường là “đầu tư dưới mức” hoặc là “đầu tư vượt mức”.
Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp khi các quyết định đầu tư thực hiện từ những thông tin kém hoàn hảo. Các công ty luôn đối mặt với những bất ổn từ nhiều nguồn khác nhau như rủi ro giá đầu ra, rủi ro giá của các yếu tố đầu vào, rủi ro tỷ giá hối đoái hoặc thậm chí rủi ro từ chính sách nhà nước (Pindyck, 1991; Dixit and Pindyck, 1994). Rủi ro hay bất ổn là tình huống ta không biết chắc chắn chuyện gì sẽ xảy ra cũng như khả năng xảy ra các biến cố này. Tuy nhiên chúng ta có thể tác động để thay đổi xác suất xuất hiện cũng như kết quả của biến cố đó.
Rủi ro ảnh hưởng không chỉ lên giá trị của các quyết định đầu tư mà còn tác động lên giá trị doanh nghiệp (Miller, 1998). Nguồn rủi ro về giá dầu đã được chứng minh trong quá khứ là nguồn quan trọng ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư và cũng là mối quan tâm lớn trong tương lai. Bernanke (1983) cho rằng để tối ưu, các công ty nên hoãn lại các chi phí đầu tư mà sẽ không thể thay đổi được (irreversible) khi đã nhìn thấy rủi ro về giá dầu tương lai gia tăng. Tăng rủi ro giá dầu làm tăng giá trị của quyền chọn chờ đợi đầu tư.
Khi các doanh nghiệp đợi thông tin mới liên quan đến rủi ro giá dầu, thì họ đã từ bỏ lợi nhuận từ việc ra quyết định sớm. Tuy nhiên, đợi thêm thông tin sẽ hạn chế được quyết định sửa chữa. Khi mức rủi ro giá dầu mà gia tăng, thì nó sẽ làm tăng giá trị quyền chọn chờ đợi đầu tư và giảm khuyến khích đầu tư. Biến động giá dầu có thể tác động đến quyết định đầu tư bởi vì biến động giá dầu càng cao thì rủi ro năng lượng đầu vào càng lớn mà điều này sẽ ảnh hưởng đến năng suất cận biên của vốn (Pindyck, 1991).
Phù hợp với lý thuyết về quyền chọn thực, khi đối mặt với sự gia tăng rủi ro, các công ty thường hoãn các quyết định đầu tư bởi vì có giá trị quyền chọn của việc chờ đợi để giải quyết bất ổn (Pindyck,1991; Dixit and Pindyck, 1994). Các tài liệu gần đây hơn về quyền chọn chiến lược tăng trưởng và quyền chọn kết hợp nhấn mạnh rằng khi các công ty không có kiểm soát độc quyền từ cơ hội đầu tư và thị trường là cạnh tranh không hoàn hảo, thì có hai ảnh hưởng giá trị quyền chọn đó là quyền chọn chờ đợi để giải quyết bất ổn và quyền chọn tăng trưởng công ty (Kulatilaka and Perotti, 1998). Khi đối mặt với rủi ro, các công ty thường hoãn đầu tư cho đến khi bất ổn được giải quyết. Tuy nhiên nếu không đầu tư sẽ làm chậm trễ khả năng chiếm lĩnh thị phần hay tăng trưởng công ty, điều này sẽ cho phép đối thủ cạnh tranh chiếm lấy cơ hội.
Hai ảnh hưởng này dẫn đến phát sinh mối quan hệ chử U giữa đầu tư và rủi ro. Biến động giá dầu là chủ đề quan trọng cần quan tâm vì dầu là yếu tố đầu vào cần thiết cho hầu hết các sản phẩm và dịch vụ (như ngành vận tải). Trong khi hầu hết các công ty không tiêu thụ dầu thô, họ tiêu thụ xăng, dầu đốt nóng và nhiên liệu phản lực, mà tất cả sản phẩm này đều làm từ dầu thô. Tuy nhiên giá các sản phẩm này biến động cùng với giá dầu thế giới, xem thực nghiệm ở phần kế tiếp.2 Mối liên hệ giữa biến động giá dầu thế giới với biến động giá xăng Việt Nam Vì trong bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu biến động giá dầu thô thế giới làm biến nghiên cứu trong mô hình đầu tư công ty ở Việt Nam, nên phần nghiên cứu phụ dưới đây nhằm mục đích cho thấy sự gắn kết giữa biến động giá dầu thô thế giới và giá xăng ở Việt Nam như thế nào.
Dữ liệu : + Giá xăng A92 ở Việt Nam → Nguồn : xangdau.net + Giá dầu thô thế giới → Nguồn: EIA – Cơ quan Thông tin Năng lượng của Mỹ. + Thời gian: Năm 2005 đến năm 2012, 8 năm + Lấy giá đóng cửa hàng ngày và tính biến động giá dầu (%) theo quý, công thức tính biến động dựa theo công thức của Sadorsky (2008) như sau: N 1 ot = � �(rt0 − E(rt0 ))2. √N N−1 t=1 Trong đó : • rt0 là tỷ suất sinh lợi giá dầu hàng ngày, rt = 100 ln(pt/pt-1), với pt là giá dầu đóng cửa hàng ngày. • E(rt0) là giá trị trung bình của tỷ suất sinh lợi hàng quý.
• N là số ngày giao dịch trong quý (N ≈ 63) Kết quả thực nghiệm : Thống kê mô tả: Bảng 1.1 Thống kê mô tả Variable Obs Mean Std. Min Max Oilvn 32 8.51 123doc 5 Kết quả chạy hồi quy : Biến động Giá xăng VN = -5.77xBiến động giá dầu thế giới + Sai số. Từ bảng thống kê mô tả cho thấy mức biến động giá xăng Việt Nam trung bình khoảng 8%/quý và biến động giá dầu thế giới khoảng 17.81%/quý, hai mức cao nhất của hai biến đều rơi vào năm 2008, khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra. Dữ liệu là chuổi thời gian có 32 quan sát cho mỗi biến.
Kết quả chạy hồi quy cho thấy nếu giá dầu thế giới biến động tăng 1% thì giá xăng Việt Nam biến động tăng 0.77%, với mức ý nghĩa 5% và biến động giá xăng Việt Nam biến động cùng chiều với biến động giá dầu thế giới. Kết quả này có ý nghĩa cho mô hình thực nghiệm trong bài vì bài nghiên cứu sẽ được tính toán dựa trên giá dầu thế giới. Giá dầu thế giới đóng góp vào biến động giá xăng trong nước trong giai đoạn này khoảng 27% (R2=0.27), mô hình có mức ý nghĩa 5%. Kiểm định mô hình: • Kiểm định phương sai thay đổi : dùng kiểm định White, với H0 là không có phương sai thay đổi.
Kết quả: Có phương sai thay đổi, với p-value là 0. • Kiểm định tự tương quan bậc 1 : dùng phương pháp Durbin- Watson, bằng cách tính p-value của kiểm định DW (durbinalt). Kết quả: Không có tự tương quan bậc 1, với p-value là 0.1 cho thấy năm biến động giá xăng dầu cao nhất là năm 2008, cụ thể ở Việt Nam biến động mạnh nhất (khoảng 53%) xảy ra vào quý 3 năm 2008 còn giá dầu thế giới biến động mạnh nhất (khoảng 48%) vào quý 4 năm 2008.2 cho thấy vào đầu quý 3 năm 2008 giá dầu thế giới đạt đỉnh 145.29$/thùng và khoảng 10 ngày sau giá xăng Việt Nam tăng kỷ lục từ 11300vnd/lít vọt lên 19000vnd/lít, sau đó giá dầu thế giới bắt đầu giảm dần đến cuối quý 4 năm 2008 còn khoảng 40$/thùng tức giảm khoảng 70% trong khi giá xăng Việt Nam giảm xuống bằng với giá đầu quý (11000vnd/lít). 123doc 6 50 40 30 20 10 0 2005q1 2007q1 2009q1 2011q1 2013q1 time oilTG (%) oilVN (%) Biểu đồ 1.1 Biến động giá dầu thế giới và giá xăng Việt Nam theo quý.
Nguồn: Tác giả tự tính toán. 25000 140 20000 120 PriceA92VN (vnd/lit) Priceoil ($/barrel) 100 15000 80 10000 60 40 5000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Period Priceoil ($/barrel) PriceA92VN (vnd/lit) Biểu đồ 1.2 Diễn biến giá dầu thô thế giới và giá xăng A92 Việt Nam 123doc 7 Sự kiện tác động gây biến động mạnh nhất trong giai đoạn này là do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra. Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, “bong bóng” giá dầu đạt đỉnh là do tình hình tăng trưởng kinh tế thế giới trước đó quá ấn tượng, đặc biệt là hai nước có nền công nghiệp hóa nhanh như Ấn Độ và Trung Quốc, trong khi lượng cung dầu bắt đầu giảm dần từ 2005 đến 2008. Ngoài ra còn do một số nhân tố khác tác động như sự gắn kết giá dầu theo đồng dollar Mỹ, chứng khoán không còn là kênh đầu tư hấp dẫn nên dẫn đến một sự chuyển hướng của các nhà đầu tư sang kênh khác như hàng hóa… Tuy nhiên sau đó vào quý 4 năm 2008 thì giá bắt đầu tuột dốc không phanh khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra.
Từ sau năm 2008 giá dầu không có sự biến động mạnh nào nữa cho đến năm 2011 khi cuộc nội chiến Lybia xảy ra đã góp phần đẩy giá dầu tăng mạnh và sau đó giảm lại do mối quan ngại về tình hình nền kinh tế thế giới tiếp tục đi xuống. Lúc này giá xăng ở Việt Nam cũng được điều chỉnh theo sự biến động của giá dầu thế giới. Kết luận : Chương này khái quát về đầu tư chiến lược và rủi ro. Đầu tư chiến lược là quyết định quan trọng nhất mà các công ty đều phải trải qua và kết quả của nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đang tồn tại trong thế giới đầy bất ổn nên các quyết định này cũng được thực hiện trong một môi trường như vậy, mà ta không biết chắc chắn những bất ổn hay rủi ro gì sẽ xảy ra và với xác suất bao nhiêu, nhưng trong khả năng doanh nghiệp có thể hạn chế được kết quả của rủi ro đó nếu nó xảy ra. Đầu tư là thành phần chính của tổng cầu và đầu tư đóng góp hình thành vốn cổ phần theo mô hình tăng trưởng kinh tế, điều này có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng (Mankiw, 2006). Ví dụ ở Việt Nam, đầu tư vào tài sản cố định chiếm khoảng 35% GDP tính trung bình từ năm 2000-2010 (theo số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê Việt Nam). Vì hầu hết các công ty đều phải ra các quyết 123doc 8 định đầu tư trong một thế giới đầy bất ổn, cho nên hiểu đúng về ảnh hưởng của rủi ro lên đầu tư sẽ cần thiết cho sự thành công của công ty.