Chương I1 đã giới thiệu tông quan về dé tài nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết và nghiên cứu liên quan về du lịch mạo hiểm, hành vi tham gia, hành vi công dân của khách hang, sự hài lòng va chất lượng cuộc sống đã được các tác giả trước đó phát triển trên thế giới. Từ những cơ sở lý thuyết này, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cũng được xây dựng.2 Du lịch mạo hiểm Hiệp hội Thương mại Du lịch mạo hiểm (ATTA) định nghĩa du lịch mạo hiểm như một chuyến đi trong đó bao gồm ít nhất hai trong ba yếu tô sau đây: hoạt động thé chất, môi trường tự nhiên, và tương tác văn hóa. Trong khi định nghĩa của du lịch mạo hiểm chỉ yêu cầu hai thành phần, các chuyến đi kết hợp cả ba có xu hướng để đủ khả năng khách du lịch mạo hiểm trải nghiệm day đủ nhất.
Vi dụ, một chuyến đi Peru mà việc tham gia đi bộ (hoạt động thể chất) thông qua đường mòn Machu Picchu (môi trường tự nhiên) và tương tác với cư dan địa phương hoặc các dân tộc bản địa (tương tác văn hoá). Du lịch mạo hiểm có thể có phạm vi trong nước hoặc quốc tế, và giống như tất cả các chuyến đi, nó phải gồm ít nhất một đêm nghỉ, nhưng không kéo dai hơn một năm (ATDI, 2011).3 Đồng tạo sinh Theo lịch sử, khái niệm đồng tạo sinh đã được Parahald và Ramaswamy (Prahalad & Ramaswamy, 2004, Prahalad & Ramaswamy, 2000) đặt ra trong các xu hướng mới nỗi trong các môi trường kinh doanh bat đầu từ việc cung cấp tới các xu hướng tuỳ biến, cá nhân hoá, và gần đây đồng tạo sinh. Các tác giả cho rằng khách hàng của những ngày trước đó như là những khán giả thụ động muốn có được giá trị tích hợp trong các sản phẩm và dịch vụ vì lợi ích của họ nhưng giờ đây họ là những người chơi năng động và đồng sản xuất và cùng tạo ra giá trị với công ty. Sau đó, công trình nghiên cứu của Vargo và Lusch (Vargo & Lusch, 2004, 2008a) đã nhẫn mạnh vào việc tạo ra giá trị trong khung logic S-D như một qua trình tương tác lẫn nhau trong đó khách hang và doanh nghiệp đều tham gia vào việc tạo ra gia tri (Vargo & Lusch, 2004).
Họ tuyên bố rằng giá tri được tạo ra băng nhau và được tạo ra bởi các khách hàng và công ty trong quá trình tương tác. Một bên không thể tạo ra giá trị cho bên kia. Gia tri được đồng tạo bởi cả hai bên. Về van dé nay, quan điểm trước đây của Gummesson (Gummesson, 1998) cho biết việc tạo ra gia tri chỉ có thé thực hiện được khi một sản phẩm hay dịch vụ được tiêu thụ.
Như vậy, hang không bán không có giá tri, và một nhà cung cấp dịch vụ mà không có khách hàng không thể tạo ra giá trị. Tương tự như vậy, Vargo và Lusch đã nói: Gia tri luôn luôn là duy nhất và được xác định theo hiện tượng học của người hưởng lợi. Nó luôn luôn là vô hình, có kinh nghiệm không đồng nhất, đồng tạo ra, và dé bị hư hỏng (Vargo & Lusch, 2008) và khách hàng luôn là người đồng sáng tạo ra giá trị (Vargo & Lusch, 2008). Bang cách mở rộng tu tưởng tương tu, Xie et al.
lập luận rằng khách hàng là những người hoạt động tích cực trong việc tạo ra giá trị do đó cần thiết cho các doanh nghiệp tập trung vào hành vi của khách hàng (Xie et al. Do đó, Yi và Gong đã xây dựng một mô hình mang tinh thời sự về hành vi đồng tạo sinh ra giá trị khách hàng là hành vi tham gia của khách hàng và hành vi công dân khách hàng của khách hang (Yi, Gong, & Lee, 2013). Đồng tạo sinh được đặc trưng bởi bốn thành phần chính. Đầu tiên là hợp tác giữa hai bên, thông thường giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách du lịch.
Mục tiêu của sự hợp tác này là để tạo ra giá trỊ băng cách phát triển trải nghiệm cá nhân, độc đáo. Thứ hai là nó nhắn mạnh đến việc đồng sản xuất các sản phẩm / dịch vụ mới và cải tiến, bao gồm các đặc điểm và đặc tính của nó với sự tham gia trực tiếp của khách du lịch vào việc tạo ra ý tưởng và các giai đoạn phát triển khái niệm của quá trình đổi mới. Thứ ba liên quan đến việc thực tế là việc tạo ra giá trị đang chuyển từ logic ưu tiên hàng hoá sang logic ưu tiên dịch vụ. Trong phương pháp này, khách du lịch và kinh nghiệm của họ là chìa khóa khi khách hàng tìm kiếm giá trị cá nhân để đáp ứng nhu câu về tình huống của họ.
Cuối cùng, đồng tạo sinh đang được triển khai, thích nghị, được cá nhân hoá và độc đáo. Vì vậy, sự đôi mới tập trung vào công việc đang được đặt ở bên cạnh, và thay vi trải nghiệm môi trường được sử dụng để tạo ra giá trị bang cách liên tục làm việc với khách hàng cá nhân. Logic trong dịch vụ lập luận rang khách hàng luôn tạo ra giá trị, bởi vì họ thực sự tham gia vào quá trình tao ra giá tri (Payne, Storbacka, và Frow 2008, 8 Vargo va Lusch 2008). Khach hang tham gia vao viéc tao ra gia tri bang viéc tich hop cac nguon lực thong qua mot loạt các hoạt động va tương tác (Arnould, Price và Malshe 2006; Baron and Harris 2008).
Do đó, khách hàng đóng vai trò tích cực, mặc dù khác nhau, trong việc cung cấp dịch vụ và dé thực hiện các lợi ích (Prahalad va Ramaswamy 2003, Vargo va Lusch 2004, McColl-Kennedy và cộng sự, 2012). Do do, đồng tạo sinh giá trị đã được định nghĩa là "lợi ích được nhận ra từ việc tích hợp các nguồn lực thông qua các hoạt động và tương tác với các cộng tác viên trong mạng lưới dịch vụ của khách hàng” (McColl-Kennedy và cộng sự, 2012, trang 375). Trong định nghĩa "hoạt động” này, các hoạt động nhận thức và hành vi hoặc hoạt động tích cực của sự vat và tương tác' phản ánh sự tham gia cua cá nhân với những người khác trong mạng lưới dịch vụ (McColl-Kennedy và cộng sự, 2012. Hai cấu trúc khác được dự đoán sẽ ảnh hưởng đến việc đồng tạo sinh, đó là sự sẵn sàng làm việc với người khác và cơ hội tham gia.
Nó được thành lập bởi Vargo va Lusch (2007), cũng như Cova, Dalli, và Zwick (2011), đồng sáng tao là sự kết hợp giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp để cùng nhau tạo ra một sản phẩm hoặc dich vụ gia tri gia tăng. Néu không có sự tạo thành tương tác nay thì không thể. Theo đó, một cá nhân phải sẵn sàng làm việc với nhà cung cấp dịch vụ dé có khả năng tham gia vào kinh nghiệm đồng tạo sinh. Nếu không có sự sẵn lòng này, không có tương tác sẽ xảy ra, do đó quá trình đồng tạo sinh không diễn ra.
Tuy nhiên, trước khi người tiêu dùng có thể lựa chọn liệu họ có sẵn sảng tham gia vào quá trình đồng tạo sinh, họ phải có cơ hội dé làm như vậy. Nếu các tô chức không thúc đây sự hợp tác chung giữa chính họ và khách hàng và không thông báo cho khách du lịch về cách họ có thé giúp đỡ trong việc phát triển thêm nhiều dịch vụ giá trị gia tăng, thì du khách thậm chí sẽ không được trình bày với cơ hội này. Để có khả năng tham gia vao quá trình đồng tạo sinh, các công ty phải sẵn sàng hỗ trợ vai trò của khách du lịch trong quá trình này, do đó cung cấp cho họ cơ hội tham gia.4 Hành vi tham gia của khách hàng Hanh vi tham gia của khách hàng được định nghĩa là những hành vi của khách hàng có liên quan đến quá trình đồng tạo sinh dịch vụ và sử dụng dịch vụ (Auh và ctg., 2007; Mustak và ctg. Các hành vi này xảy ra trong phạm vi 9 tương tác trực tiếp giữa hai phía trong quá trình sử dụng dịch vụ (Gronroos & Voima, 2013; Chen & Raab, 2014; Gallan & ctg.
Định nghĩa này phù hop với quan điểm đồng tao sinh giá tri của Vargo & Lusch (2004). Theo đó, khách hàng tương tác với nhà cung cấp dịch vụ theo những tình huống khác nhau, từ đó tạo ra lợi ích cho cả doanh nghiệp và khách hang (Vivek & ctg. Ennew & Binks (1999) chỉ ra rằng một trong những đặc tính của việc tham gia là khách hàng cũng có vai trò như một thành phần trong quá trình dịch vụ, nên họ có trách nhiệm trong việc tạo nên sự thành công của dịch vụ. Hành vi tham gia của khách hàng bao gôm: Tìm kiếm thông tin (information seeking), chia sẻ thông tin (information sharing), hành vi trách nhiệm (responsible behavior) và tương tac cá nhân (personal interaction) (Yi & Gong, 2013).
Tim kiếm thông tin. Khách hàng tim kiếm thông tin dé làm rõ các yêu cầu và đặc điểm của dịch vụ, cũng như thoả mãn các nhu cầu nhận thức của mình (Kellogg & ctg. Cụ thé hơn, khách hàng muốn có thông tin về trạng thái và các thông số về dịch vụ. Tìm kiếm thông tin là quan trọng đối với khách hàng vì hai lý do.
Thứ nhất, thông tin làm giảm sự không chắc chăn và do đó cho phép khách hàng hiểu và kiểm soát môi trường đồng tạo sinh của họ. Thứ hai, việc tìm kiếm thông tin cho phép khách hàng năm vững được vai trò là đồng tạo sinh giá trị và tích hợp vào quá trình đồng tạo sinh giá trị. Khách hàng có thé tìm kiếm thông tin từ công ty theo một số cách. Ví dụ, khách hàng có thể trực tiếp hỏi người khác để biết thông tin hoặc họ có thé theo dõi hành vi của khách hàng đã có kinh nghiệm dé có được tín hiệu thông tin (Kelley et al.
Chia sé thông tin. Dé quá trình đồng tao sinh giá trị thành công, khách hang cần cung cấp thông tin dé sử dụng trong quá trình đồng tạo ra giá trị (Lengnick- Hall, 1996). Thông qua chia sẻ thông tin với nhân viên, khách hàng có thé dam bao rằng nhân viên cung cấp dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cụ thể của họ (Ennew and Binks, 1999). Có thé nói rang, chia sẻ thông tin là thành phân cốt lõi trong hành vi tham gia của khách hàng.
Bởi vì nếu không có sự chia sẻ thông tin hoặc thông tin không chính xác, kết quả của dịch vụ sẽ không đạt được như mong đợi (Yi & Gong, 2013). 10 Hành vi trách nhiệm. Hành vi trách nhiệm là những hoạt động khách hang cần thực hiện, phối hợp với nhà cung cấp khi tạo sinh và sử dụng dịch vụ (Y1 & Gong, 2013).