Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của động lực phụng sự công đến chia sẻ tri thức trường hợp ủy ban nhân dân tỉnh bà rịa vũng tàu

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh ảnh hưởng của động lực phụng sự công đến chia sẻ tri thức trường hợp ủy ban nhân dân tỉnh bà, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.6. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Phân loại tri thức

2.2. Chia sẻ tri thức

2.3. Động lực phụng sự công

2.4. Các nghiên cứu trước có liên quan

2.4.1. Nghiên cứu của Chen và Hsieh (2015)

2.4.2. Nghiên cứu của Lưu Trọng Tuấn (2016)

2.4.3. Nghiên cứu của Kim (2017)

2.5. Đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình các bước nghiên cứu

3.2. Nghiên cứu định tính

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Kết quả nghiên cứu định tính

3.3. Xây dựng và mã hóa thang đo

3.4. Nghiên cứu định lượng

3.4.1. Thiết kế mẫu nghiên cứu định lượng

3.4.2. Thiết kế bảng hỏi

3.4.3. Thu thập dữ liệu nghiên cứu

3.4.4. Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

4.2. Đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các thang đo

4.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.1. Phân tích nhân tố khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức

4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá thang đo Chia sẻ tri thức

4.4. Phân tích tương quan và hồi quy

4.4.1. Phân tích hệ số tương quan

4.4.2. Phân tích hồi quy

4.4.2.1. Đánh giá sự phù hợp của mô hình
4.4.2.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
4.4.2.3. Kết quả phân tích hồi quy và đánh giá mức độ ảnh hưởng từng yếu tố

4.4.3. Kiểm định lý thuyết phân phối chuẩn

4.4.4. Kiểm định giả thuyết

4.5. Kiểm định chia sẻ tri thức với các biến định tính

4.5.1. Kiểm định sự khác biệt về chia sẻ tri thức giữa các nhóm giới tính
4.5.2. Kiểm định sự khác biệt về chia sẻ tri giữa các độ tuổi
4.5.3. Kiểm định sự khác biệt về chia sẻ tri thức giữa các trình độ học vấn
4.5.4. Kiểm định sự khác biệt về chia sẻ tri thức giữa các vị trí việc làm
4.5.5. Kiểm định sự khác biệt chia sẻ tri thức giữa các thâm niên công tác

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.3. Hàm ý quản trị

5.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Của Động Lực Phụng Sự Công

Động lực phụng sự công (PSM) là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy chia sẻ tri thức trong các tổ chức công. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực này và chia sẻ tri thức trở nên cần thiết. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về động lực của công chức mà còn góp phần nâng cao hiệu quả công việc trong các cơ quan nhà nước.

1.1. Động Lực Phụng Sự Công Là Gì

Động lực phụng sự công được định nghĩa là sự hấp dẫn của việc phục vụ lợi ích công. Nó bao gồm các yếu tố như lòng trắc ẩn, nghĩa vụ công dân và cam kết với các giá trị công. Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy công chức chia sẻ tri thức.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Chia Sẻ Tri Thức

Chia sẻ tri thức là một quá trình quan trọng trong quản lý công. Nó giúp lấp đầy khoảng cách tri thức giữa các công chức, từ đó nâng cao hiệu quả công việc và cải thiện dịch vụ công. Việc chia sẻ tri thức còn giúp tổ chức thích ứng với những thay đổi trong môi trường làm việc.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Chia Sẻ Tri Thức Tại Bà Rịa Vũng Tàu

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc chia sẻ tri thức, nhưng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, vẫn tồn tại nhiều thách thức. Tỷ lệ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công chưa cao, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện động lực phụng sự công của công chức.

2.1. Tình Hình Chia Sẻ Tri Thức Hiện Tại

Chia sẻ tri thức tại các cơ quan nhà nước ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện đang gặp khó khăn. Nhiều công chức vẫn còn thiếu động lực để chia sẻ thông tin, dẫn đến tình trạng tri thức không được khai thác hiệu quả.

2.2. Nguyên Nhân Của Vấn Đề

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bao gồm động lực phụng sự công thấp, sự thiếu hụt trong việc khuyến khích chia sẻ tri thức và áp lực công việc cao. Những yếu tố này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả chia sẻ tri thức.

III. Phương Pháp Nâng Cao Động Lực Phụng Sự Công Để Chia Sẻ Tri Thức

Để nâng cao động lực phụng sự công, cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện động lực mà còn thúc đẩy việc chia sẻ tri thức trong các tổ chức công.

3.1. Tạo Môi Trường Làm Việc Khuyến Khích

Môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sẽ giúp công chức cảm thấy có động lực hơn trong việc chia sẻ tri thức. Cần tạo ra các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng để nâng cao năng lực cho công chức.

3.2. Khuyến Khích Tham Gia Của Công Chức

Khuyến khích công chức tham gia vào các hoạt động chia sẻ tri thức thông qua các chương trình thưởng và công nhận. Điều này sẽ tạo động lực cho họ trong việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Tại Bà Rịa Vũng Tàu

Nghiên cứu này không chỉ mang lại giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cao. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện động lực phụng sự công và chia sẻ tri thức tại các cơ quan nhà nước.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Được Ứng Dụng

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao động lực phụng sự công có thể dẫn đến sự gia tăng trong chia sẻ tri thức. Các cơ quan nhà nước có thể áp dụng các phương pháp đã đề xuất để cải thiện tình hình này.

4.2. Tác Động Đến Hiệu Quả Công Việc

Việc nâng cao động lực phụng sự công không chỉ giúp cải thiện chia sẻ tri thức mà còn nâng cao hiệu quả công việc. Điều này sẽ góp phần vào việc cải thiện dịch vụ công và sự hài lòng của người dân.

V. Kết Luận Và Hướng Đi Tương Lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng động lực phụng sự công có ảnh hưởng lớn đến chia sẻ tri thức tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Để nâng cao hiệu quả công việc, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp cải thiện động lực này.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có năm yếu tố chính của động lực phụng sự công ảnh hưởng đến chia sẻ tri thức. Những yếu tố này cần được chú trọng trong các chính sách quản lý công.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các chương trình cải thiện động lực phụng sự công và chia sẻ tri thức trong các tổ chức công khác nhau.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của động lực phụng sự công đến chia sẻ tri thức trường hợp ủy ban nhân dân tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày về lý do hình thành nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi và phương pháp nghiên cứu làm cơ sở cho định hướng nghiên cứu ở các chương tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này bao gồm: (1) Các khái niệm về tri thức, chia sẻ tri thức, động lực phụng sự công, (2) Các nghiên cứu trước đây nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực phụng sự công và chia sẻ tri thức, (3) Đề xuất giả thuyết, (4) xây dựng mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa động lực phụng sự công và chia sẻ tri thức trong các Sở chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.1 Khái niệm Tri thức phức tạp hơn dữ liệu hoặc thông tin, nó là chủ quan, thường dựa trên trải nghiệm và ngữ cảnh (Dalkir, 2011). Theo Davenport và Prusak (1998) cho rằng tri thức (Knowledge) là một hỗn hợp chất lỏng của kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh, tri thức chuyên sâu cung cấp một khuôn khổ để đánh giá và kết hợp kinh nghiệm, thông tin mới (Trích dẫn trong Dalkir, 2011). Lee và Yang (2000) cho rằng tri thức là kết quả của việc giải thích thông tin dựa trên sự hiểu biết của một người, nó chịu ảnh hưởng bởi tính cách của chủ sở hữu nó vì nó dựa trên sự phán đoán và trực giác, tri thức kết hợp niềm tin, thái độ và hành vi.

Nonaka và cộng sự (2015) quan niệm tri thức là một dòng chảy (Flow) thông tin liên tục có tổ chức, là một quá trình (Process) năng động của con người/xã hội trong việc xác thực niềm tin cá nhân trở thành ch ân lý. Wang và Noe (2010) cho rằng tri thức là thông tin được xử lý bởi cá nhân bao gồm ý tưởng, sự kiện, chuyên môn, và quyết định có liên quan đến cá nhân, và hiệu quả tổ chức. Trong phạm vi luận văn này, tác giả kế thừa khái niệm tri thức của Nonaka và cộng sự (2015).2 Phân loại tri thức Một khảo sát năm 2000, Malhotra chỉ ra rằng trung bình 26% tri thức trong tổ chức được lưu trữ trong văn bản (giấy tờ, sách, tài liệu), 20% được lưu trữ bằng kỹ thuật số, và 42% được lưu trữ trong đầu của người lao động (Trích dẫn trong Serban và Luan, 2002). Hai loại tri thức quan trọng cần phải được sở hữu bởi một cá nhân trong tổ chức, bao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gồm tri thức hiện và tri thức ẩn.

Tri thức hiện (Explixit knowledge) là tri thức có cấu trúc và được mã hóa, có thể dễ dàng truyền đạt và lưu trữ, được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống. Tri thức hiện có hình thức, có hệ thống và có thể dễ dàng thể hiện trong các thông số kỹ thuật của sản phẩm, các công thức khoa học, hoặc các chương trình máy tính (Nonaka và cộng sự, 2015). Tri thức ẩn (Tacit knowledge) bắt nguồn từ kinh nghiệm và giá trị của một cá nhân, khó có thể hình thức hóa, do đó rất khó truyền đạt cho những người khác. Nó cũng được bắt rễ sâu trong hành động và trong cam kết cá nhân trong một bối cảnh cụ thể.

Tri thức ẩn bao gồm một phần của các kỹ năng kỹ thuật, các kỹ năng không chính thức, khó lưu giữ, được đề cập trong thuật ngữ "bí quyết", và có một chiều kích nhận thức quan trọng. Điều này bao gồm các hình thức tinh thần, niềm tin và quan điểm mà ăn sâu đến nỗi chúng ta phải công nhận nó, và do đó không thể dễ dàng nói rõ được chúng. Tri thức ẩn không diễn đạt trực tiếp thành tri thức hiện, mà được chuyển đổi trong bối cảnh đánh giá trị của người nhận thức (Nonaka và cộng sự, 2015). Dòng chảy tri thức ngầm bao gồm các hoạt động thông qua đó tri thức được trao đổi giữa các cá nhân và các nhóm trong tổ chức.

Những gì được trao đổi thay đổi tùy thuộc vào kỹ năng và tri thức chuyên môn của từng cá nhân, nhiệm vụ hiện tại, thời gian và phương tiện sẵn có và đặc biệt là sự sẵn sàng hoặc chống đối của cá nhân để chia sẻ tri thức với người khác (Boshoff, 2008). Tri thức ngầm đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch chiến lược của các nhà quản lý và nhân viên chuyên nghiệp (Bennett, 1998; Blattberg và Hoch, 1990; Brockmann và Anthony, 1998; trích dẫn trong Holste và Fields, 2010). Nắm bắt tri thức là rất khó khăn, đặc biệt là tri thức ẩn. Quản trị tri thức ẩn là quá trình nắm bắt được kinh nghiệm và chuyên môn của cá nhân trong một tổ chức và làm nó có sẵn cho bất cứ ai cần nó.

Việc quản trị tri thức hiện là cách tiếp cận có hệ thống về thu thập, tổ chức và tinh chỉnh thông tin giúp thông tin dễ tìm và tạo điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 kiện cho việc học tập và giải quyết vấn đề (Dalkir, 2011). Dalkir đã trình bày tóm tắt một số thuộc tính của tri thức ẩn và tri thức hiện như sau: Bảng 2.1: Tóm tắt một số tính chất chính của tri thức ẩn và tri thức hiện Thuộc tính của tri thức ẩn Thuộc tính của tri thức hiện Khả năng thích ứng, để giải quyết các Khả năng phổ biến, sao chép, tiếp cận vấn đề mới và những tình huống đặc và áp dụng lại trong toàn tổ chức. Chuyên môn, bí quyết, bí quyết và lý Khả năng giảng dạy, đào tạo. do tại sao.

Khả năng hợp tác, chia sẻ tầm nhìn, Khả năng tổ chức, hệ thống hóa; để truyền tải văn hóa. chuyển một tầm nhìn thành một tuyên bố sứ mệnh, thành hướng dẫn hoạt động. Huấn luyện và tư vấn để chuyển giao Chuyển giao tri thức thông qua các kinh nghiệm tri thức trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ và quy trình. đối một, mặt đối mặt.

Nguồn: Dalkir (2011), Quản lý tri thức trong lý thuyết và thực hành (Second edition ed.:The MIT Press). Tri thức ẩn và tri thức hiện không tồn tại tách biệt, giống như phần chìm và phần nổi của một tảng băng, hình thành một thể liên tục. Vì có thuộc tính trái ngược nhau, chúng tương tác trong một quá trình sáng tạo biện chứng rất năng độ ng, tri thức mới được sinh ra trong chính sự năng động này (Nonaka và cộng sự, 2015). Cả hai tri thức ẩn và tri thức hiện đều được yêu cầu trong các tổ chức để đưa ra các quyết định, giải quyết các vấn đề và ảnh hưởng trong hành vi tập thể của các thành viên của họ (Liebowitz và Beckman, 1998).

Một rào cản tiềm năng là sự thống trị trong việc chia sẻ tri thức hiện hơn là việc chia sẻ tri thức ẩn (Riege, 2005). Chia sẻ tri thức về tri thức ẩn đã trở thành mục tiêu quản lý trong các tổ chức (Desouza, 2003; trích dẫn trong Lin 2007c). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Chia sẻ tri thức Tri thức là một dòng chảy thông tin liên tục có tổ chức, là một quá trình năng động của con người/xã hội, được tạo ra trong tâm trí con người (Nonaka và cộng sự, 2015; Small và Sage, 2005). Do đó chia sẻ tri thức liên quan đến dòng chảy của tri thức giữa các nhân viên (Pee và cộng sự (2016).

Trong quá trình chia sẻ tri thức, cá nhân đóng vai trò trọng tâm (King, 2011). Chia sẻ tri thức trở thành chủ đề nghiên cứu quan trọng trong các lĩnh vực quản lý và hành vi tổ chức (Dong và cộng sự, 2010). Sự tồn tại của tri thức không bảo đảm việc sử dụng tri thức (Davenport và Prusak, 1998). Các tổ chức không thể tự tạo ra tri thức vì tri thức được tạo ra thông qua sự giao tiếp, tương tác giữa các cá nhân và thông qua sự tích lũy kinh nghiệm cá nhân (Goh và Sanldu, 2013; Nonaka và cộng sự, 2015; Small và Sage, 2005), và chỉ có thể tận dụng tri thức nếu mọi người sẵn sàng chia sẻ tri thức với người khác (Zhang và Ng, 2012), và phổ biến trong toàn tổ chức (Dalkir, 2011).

Nền kinh tế dựa trên tri thức được thành lập dựa trên đạo đức chia sẻ, vì vậy chia sẻ tri thức được coi là hành vi đạo đức, sự không muốn chi a sẻ tri thức nên được coi là vấn đề đạo đức do ảnh hưởng đến sự tồn tại của tổ chức (Wang, 2004; Styhre, 2002; trích dẫn trong Lin, 2007c). Chia sẻ tri thức đã được các nhà nghiên cứu xem xét sử dụng các quan điểm đơn chiều hoặc đa chiều tùy thuộc vào lăng kính được sử dụng để xem quá trình chia sẻ tri thức (Tangaraja và cộng sự, 2015). Theo quan điểm đơn chiều, Yi (2009) cho rằng chia sẻ tri thức bao gồm việc phổ biến tri thức theo một hướng, từ người trao đến người nhận, và khẳng định rằng chia sẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người trao tri thức chứ không phụ thuộc vào người nhận tri thức. Ngược lại, theo quan điểm đa chiều cho rằng chia sẻ tri thức liên quan đến việc trao đổi tri thức giữa các cá nhân thông qua hành động của việc trao tặng cũng như thu nhận tri thức, đó là một quá trình đa chiều (Van den Hooff và de Ridder, 2004).

Quan điểm này được hỗ trợ bởi các học giả khác như Karkoulian và cộng sự (2010), Lin (2007a,b,c), Tohidinia và Mosakhani (2010), Van Den Hooff và cộng sự (2012). Theo quan điểm chia sẻ tri thức là một quá trình đa chiều, sau đây là một số khái niệm chia sẻ tri thức của một số tác giả tiêu biểu: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Chia sẻ tri thức là các hoạt động giúp nhân viên làm việc cùng nhau, tạo điều kiện trao đổi tri thức, nâng cao năng lực học tập của tổ chức và tăng khả năng đạt được các mục tiêu cá nhân và tổ chức (Dyer và Nobeoka, 2000). Chia sẻ tri thức là một quá trình mà các cá nhân trao đổi tri thức (tri thức ẩn hoặc hiện) và cùng nhau tạo ra một tri thức mới (Van den Hooff và cộng sự, 2004). Chia sẻ tri thức là một văn hóa tương tác xã hội, liên quan đến việc trao đổi tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng của nhân viên thông qua toàn bộ phận hoặc tổ chức (Lin, 2007a, b, c).

Chia sẻ tri thức xảy ra khi các thành viên trong tổ chức chia sẻ thông tin, ý tưởng, đề xuất và chuyên môn liên quan đến tổ chức với nhau (Tohidinia và Mosakhani, 2010).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ