MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cây lúa (Oryza sativa) là một trong ba cây lƣơng thực chủ yếu trên thế giới: lúa mì, lúa gạo, ngô. Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lƣơng thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên ½ khẩu phần lƣơng thực hàng ngày. Nhƣ vậy, lúa gạo có ảnh hƣởng tới đời sống ít nhất 65% số dân trên thế giới, là nguồn cung cấp năng lƣợng lớn nhất cho con ngƣời. Đƣợc trồng ở nhiều quốc gia và là một trong những cây trồng lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới với khoảng 100 quốc gia trồng lúa.
Vùng trồng và tiêu thụ lúa chính vẫn là Châu Á, nơi mà gạo đóng một vai trò không thể thay thế trong đời sống con ngƣời. Lúa có hai thành phần chính là vỏ trấu và hạt gạo, trong đó hạt gạo là phần đƣợc sử dụng nhiều nhất. Các sản phẩm thu đƣợc từ gạo, gạo trắng, bột gạo, cám gạo, gạo tấm, xi - rô gạo, dầu sữa gạo…. Ngoài châu Á, hiện nay lúa gạo ngày càng trở nên phổ biến sâu rộng ở châu Mỹ, Trung Đông và nhất là châu Phi vì lúa gạo đƣợc xem nhƣ thực phẩm bổ dƣỡng lành mạnh cho sức khoẻ và thích hợp cho đa dạng hóa các bữa ăn hàng ngày Lúa gạo là một loại lƣơng thực quan trọng đối với 3,5 tỷ ngƣời (chủ yếu ở châu Á và châu Mỹ La tinh), chiếm 50% dân số thế giới.
Ngƣời Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lƣơng thực chính. Việc sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông nghiệp. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành tích lũy, phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc. Đến nay nghề trồng lúa ở Việt Nam vẫn không ngừng phát triển cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nƣớc và trên thế giới.
Tuy nhiên, trong điều kiện canh tác hiện nay, nghề trồng lúa vẫn chƣa có hiệu quả kinh tế cao cho ngƣời nông dân. Nông dân có xu hƣớng sử dụng nhiều phân bón đẻ tăng năng suất. Nhƣng hiệu quả của nó không cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trƣờng… 1 Từ các nghiên cứu về phân bón cho thấy, phân N giữ vai trò đặc biệt trong việc tăng năng suất và là yếu tố dinh dƣỡng quan trọng nhất với cây lúa. Các loại phân khác chỉ phát huy tác dụng khi đƣợc bón đủ N và cân đối theo nhu cầu của cây.
Muốn tăng hiệu suất sử dụng phân N thì cần có kỹ thuật và liều lƣợng N phù hợp, tức là bón N đúng cách, đugs lƣợng. Việc bón phân N không cân đối với các phân khác, phƣơng pháp bón chƣa hợp lý sẽ hạn chế năng suất và không phát huy hết tiềm năng của giống. Tuy nhiên, trên thực tế khảo sát tại Phú Xuyên – Hà Nội, các hộ nông dân thƣờng bón tập trung vào bón lót, bón thúc lần 1, một số hộ không bón lần 2. Do vậy, việc sử dụng phân bón chƣa có một phƣơng pháp cụ thể, lƣợng bón mỗi lần chƣa thống nhất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón và mật độ cấy đến sinh trưởng, năng suất cây lúa Bắc Thơm 7 tại Phú Xuyên - Hà Nội”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục đích của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng đạm bón và mật độ cấy đến sinh trƣởng và năng suất lúa Bắc Thơm 7 để tìm ra mật độ cấy và lƣợng đạm bón phù hợp cho giống lúa ở vụ Xuân tại Phú Xuyên, Hà Nội.Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hƣởng của liều lƣợng đạm bón và mật độ cấy đến một số chỉ tiêu sinh trƣởng của giống lúa Bắc Thơm 7 - Đánh giá ảnh hƣởng của ảnh hƣởng của liều lƣợng đạm bón và mật độ cấy đến một số chỉ tiêu sinh lý giống lúa Bắc Thơm 7 - Đánh giá ảnh hƣởng của ảnh hƣởng của liều lƣợng đạm bón và mật độ cấy đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa Bắc Thơm 7 - Đánh giá ảnh hƣởng của ảnh hƣởng của liều lƣợng đạm bón và mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lúa Bắc Thơm 7 2 PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và tại Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới Có thể khẳng định đơn vị đi đầu trong công tác nghiên cứu về giống lúa trên thế giới là Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Từ Viện lúa này, đã có hàng ngàn giống lúa cải tiến đƣợc tạo ra từ đây. Các nhà khoa học của IRRI đã rất quan tâm đến việc cải thiện chất lƣợng nấu nƣớng đối với các giống lúa cải tiến. Tuy nhiên tiến trình cải thiện chất lƣợng của giống thƣờng diễn ra rất chậm vì hầu hết các giống lúa cải tiến đều mang gen chống chịu sâu bệnh mà những giống này đều có hàm lƣợng amylose cao và nhiệt độ hoá hồ thấp.
Những cây có dạng khỏe và độ hữu thụ cao đƣợc chọn ra để phân tích hàm lƣợng amyloza, nhiệt độ hóa hồ và hƣơng thơm. Những dòng có dạng cây xấu, độ hữu thụ thấp, chất lƣợng hạt kém và độ thơm thấp đƣợc loại bỏ qua các thế hệ. Sau một số chu kỳ lai và chọn lọc những dòng có dạng cây khỏe, thấp cây, đáp ứng đƣợc các đặc điểm về chất lƣợng nhƣ Basmati đƣợc chọn lọc và tiến hành khảo nghiệm tại IRRI, Ấn Độ và Pakistan (Suichi 1985). Với sự phát hiện ra cây lúa dại có hạt phấn bất thụ vào 1970, các nhà khoa học Trung Quốc, Ấn Độ và IRRI đã tạo ra một số dòng CMS - bất dục đực thuộc tế bào chất (A), dòng bảo tồn thích ứng (B), và dòng phục hồi (R) thích hợp để sản xuất ra những tổ hợp lúa lai đa dạng.
Những tổ hợp lai 3 dòng đầu tiên của Trung Quốc gồm có Wei-you 2, Wei-you 3, Wei-you 6, Shan-you 2, Shan-you 3, Shan-you 6, Nam- you 2, Nam-you 3, Si-you 2.đã tạo ra sự đột phá về năng suất và sản lƣợng lúa. Sản xuất lúa gạo trên thế giới ngày càng phát triển, diện tích gieo trồng nhìn chung đều tăng qua các năm. Theo tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAOSTAT 2020), diện tích trồng lúa tăng từ năm 2012 đến 2020 (từ 161,6 triệu ha năm 2010 lên 167,7 triệu ha năm 2020) và sản lƣợng lúa 3 cũng tăng qua các năm từ 701,2 triệu tấn (2010)) tăng lên 783,2 triệu tấn (2020), trong đó Châu Á chiếm gần 88% diện tích và 90,5% sản lƣợng của thế giới; Châu Phi chiếm 6,6% diện tích và gần 4% sản lƣợng lúa của thế giới. Năng suất lúa trên thế giới từ 2010 – 2020 dao động trong khoảng từ 4,34 – 4,68 tấn/ha (bảng 2.
Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 2010 – 2020 Diện Năng Sản tích suất lƣợng Năm (triệu (tấn/ha) (triệu tấn) ha) 2010 161,6 4,34 701,2 2011 162,7 4,43 721,6 2012 162,3 4,52 733,0 2013 164,3 4,49 739,2 2014 162,7 4,56 741,4 2015 160,8 4,60 740,1 2016 160,0 4,64 741,0 2017 166,1 4,64 769,8 2018 167,1 4,68 782,0 2019 165,7 4,65 765,1 2020 167,7 4,68 783,2 Nguồn: FAOSTAT, 2020 4 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại Việt Nam So sánh diện tích canh tác và sản lƣợng giữa lúa và các cây lƣơng thực khác ở Việt Nam thì lúa gạo vẫn là cây lƣơng thực chủ lực đƣợc ƣu tiên hàng đầu với diện tích nhiều nhất hơn hẳn ngô và sắn, sản lƣợng cao hơn khoai lang và sắn. Việt Nam vƣợt trội trong khu vực Đông Nam Á nhờ hệ thống thủy lợi đƣợc đầu tƣ cải thiện đáng kể cũng nhƣ việc ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, phân bón và bảo vệ thực vật. Công tác chọn tạo giống lúa chất lƣợng cao ở Việt Nam dựa theo các giá trị tiêu chuẩn tƣơng tự nhƣ lúa của Thái Lan và IRRI.
Theo đó thì những giống lúa có phẩm chất gạo cao là những giống lúa có hạt gạo dài từ 6,61 đến 7,5 mm, tỷ lệ gạo nguyên ≥ 55%, gạo trắng trong, ít bạc bụng, độ hoá hồ trung bình, độ bền thể gel mềm, hàm lƣợng amylose trung bình (Bùi Chí Bửu & Nguyễn Thị Lang, 2009). Từ năm 2006 đến nay, Bộ NN-PTNT đã đầu tƣ khoảng 40 tỷ đồng để triển khai nghiên cứu chọn tạo giống lúa theo hƣớng thích ứng biến đổi khí hậu cho vùng ĐBSCL. Viện lúa ĐBSCL là đơn vị có những đóng góp to lớn cho việc thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL với những giống lúa cải tiến có diện tích gieo trồng chiếm tới 60-65% diện tích gieo cấy lúa ở khu vực này. Các giống lúa trên đƣợc phân thành nhiều nhóm: giống lúa cực ngắn ngày, giống lúa chịu mặn, giống lúa chịu hạn và giống lúa giàu vi chất dinh dƣỡng.2, diện tích trồng lúa của nƣớc ta có nhiều thay đổi, giai đoạn 2012 –2020 từ 7,48 triệu ha (2010) tăng cao nhất lên 7,78 triệu ha (2016).
Sản lƣợng lúa tăng liên tục qua các năm, từ 40,00 triệu tấn (2010) lên cao nhất đến 46,67 triệu tấn (2019). Cho thấy sản xuất lúa gạo ở nƣớc ta ngày càng phát triển. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam giai đoạn 2010– 2020 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2010 7,48 5,34 40,00 2011 7,65 5,53 42,39 2012 7,75 5,63 43,66 2013 7,90 5,57 44,03 2014 7,81 5,75 44,97 2015 7,83 5,76 45,11 2016 7,78 5,58 43,44 2017 7,71 5,55 42,76 2018 7,57 5,82 44,05 2019 7,73 5,78 46,67 2020 7,68 5,80 45,53 Nguồn: FAOSTAT, 2020 Có thể nói cây lúa gắn bó với ngƣời dân Việt Nam từ rất lâu đời, đi qua mấy nghìn năm lịch sử, qua các triều đại phong kiến và các thời kì đô hộ cho đến ngày nay Việt Nam đƣợc coi là một nƣớc có truyền thống sản xuất lúa gạo, là cội nguồn của nền văn minh lúa nƣớc. Cây lúa có vai trò to lớn đối với đời sống của ngƣời dân Việt Nam, không chỉ là nguồn lƣơng thực chính mà nó còn thể hiện nét văn hóa, phong tục tập quán.
Căn cứ vào điệu kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và phƣơng pháp gieo trồng, nghề trồng lúa 6 nƣớc đƣợc hình thành và phân bố khắp các tỉnh trong cả nƣớc. Sản lƣợng lúa có sự biến động lớn giữa các vùng (bảng 2. Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón đến sinh trƣởn và năng suất cây lúa trê thế giới và Việt Nam 2.