Chương 1 đã cho thấy sự cần thiết của đề tài thông qua vai trò của nguồn nhân lực trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động; ảnh hưởng của kết quả cá nhân đến kết quả tổ chức và xu hướng trao quyền cho nhân viên trong quản trị. Đồng thời chương này cũng giới thiệu khái quát về mục tiêu, đối tượng, pham vi và phương pháp nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày cơ sở lý luận về các khái niệm cộng đồng thực hành, sự trao quyền về mặt tâm lý, kết quả thực hiện cá nhân và mối quan hệ giữa các khái niệm. Cộng đồng thực hành (Community of Practices - CoP) 2.1 Tổng quan về cộng đồng thực hành Cộng đồng thực hành không phải là một khái niệm mới trên thế giới.
Trong thời La Mã cổ đại và suốt thời kì Trung Cổ, các thợ sắt, thợ gốm và thợ thủ công khác đã thiết lập các cấu trúc xã hội dựa trên nền tri thứcđể thảo luận các vấn đề chung, chia sẻ thông tin, tìm kiếmý tưởng, chế tạo công cụ và hoạt động như những ủy ban tư vấn (souding board)(Wenger, McDermott, & Snyder, 2002). Thêm vào đó, Wenger, McDermott & Snyder tranh luận rằng thuật ngữ "cộng đồng" được đặt ra trong bối cảnh các nghiên cứu về học nghề truyền thống. Học nghề thường được xem như là một mối quan hệ giữa thầy và trò. Cộng đồng thực hành là thuật ngữ mà Lave và Wenger (1991) đã dùng để ám chỉ cấu trúc xã hội này.
Wenger, McDermott&Snyder (2002) lưu ý rằng các cộng đồng thực hành được kết nối lỏng lẻo, phi chính thức và tự quản. Chúng có thể được thành lập bởi những mục đích khác nhau. Ví dụ, một nghiên cứu thăm dò của Trung tâm Chất lượng và Năng suất của Mỹ (APQC - American Productivity and Quality Center) đã tìm thấy bốn mục đích chiến lược khác nhau của việc hình thành các cộng đồng cho các chuyên gia ở các đội hoặc các địa điểm khác nhau. Năm 2005, thông qua một nghiên cứu của mình, APQC cho thấy cộng đồng thực hành đã nổi lên là một cách hiệu quả để tạo ra, chia sẻ, xác nhận và chuyển giao tri TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thức hiện hữu (explicit knowledge) và tri thức ẩn tàng (tacit knowledge)(APQC, 2005a).
Cụ thể, báo cáo đã nêu rõ cộng đồng đang trở thành một yếu tố thành công then chốt trong việc cải thiện thời gian tiếp cận thị trường, tái sử dụng kiến thức, thời gian đáp ứng, phát triển nhân viên, mối quan hệ chia sẻ tri thức, tổ chức học tập và thực hiện sự thay đổi. Trong một nghiên cứu về mạng lưới kiến thức hợp tác, Deloitte Consulting (2001) nhận thấy rằng phần lớn kiến thức tổ chức không nằm trong cơ sở dữ liệu của một công ty hoặc trong các qui trình, sổ tay hướng dẫn đặt ở bàn làm việc, ngăn tủ mà là “ở trong đầu” của chính nhân viên. Họ cũng lưu ý rằng các cuộc họp mặt đối mặt tạo điều kiện cho việc giao tiếp và học tập, nhưng quan trọng hơn nó cho phép thành viên chia sẻ kiến thức sâu hơn và xây dựng lòng tin lẫn nhau. Tri thức đã trở thành chìa khóa để thành công và các công ty cần phải duy trì lợi thế về tri thức của mình, triển khai, tận dụng nó trong các hoạt độngvà nhân rộng ra toàn tổ chức.
Theo đó, nuôi dưỡng các cộng đồng thực hành trong các lĩnh vực chiến lược là một cách thiết thực để quản lý tri thức như một tài sản cũng như phương pháp mà công ty quản lý các tài sản quan trọng khác (Wenger, McDermott&Snyder, 2002). Các hình thức cộng đồng tuy đa dạng nhưng tất cả đều chung một cấu trúc cơ bản. Một cộng đồng thực hành là một sự kết hợp duy nhất của ba yếu tố cơ bản: (1) một lĩnh vực tri thức, trong đó xác định một loạt các vấn đề; (2) một cộng đồng những người quan tâm về lĩnh vực này; và (3) những thực hành được chia sẻ - là những cái đang mang lại hiệu quả trong lĩnh vực của họ (Wenger, McDermott&Snyder, 2002). Sự phát triển trong tương lai bao gồm các nỗ lực để nhân rộng cộng đồng thực hành trực tuyến, xem xét sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cho cộng đồng thực hành trực tuyếnvà phát triển cộng đồng thực hành trực tuyến cho khu vực công.Theo Teigland và Wasko (2004), các mạng lưới trực tuyến này tạo ra "cầu nối quan hệ" trực tuyến giữa các thành viên trong tổ chức bị phân tán địa lý và cung cấp một không gian để trong đó các cá nhân có thể giao tiếp với nhau.
Cộng đồng thực hành được sử dụng để chia sẻ kỹ năng và học tập (Lave&Wenger, 1991, Brown&Duguid, 1991; Wenger&Snyder, 2000). Saint-Onge và Wallace (2003) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chỉ ra rằng nhiều cuộc thảo luận về cộng đồng thực hành đặt trong một loạt các loại cộng đồng khác nhau, như là cộng đồng cùng sở thích, cộng đồng học tập và cộng đồng cam kết. Mặc dù có sự đa dạng về hình thức nhưng tất cả chúng đều có cùng một cấu trúc cơ bản. Lave và Wenger (1991) đã sử dụng thuật ngữ cộng đồng thực hành với nghĩa là học theo tình huống thông qua việc gắn kết vào các hoạt động của cộng đồng, trong đó bao gồm ngôn ngữ chuyên môn, kỹ năng và kiến thức văn hóa.
Với những cộng đồng này, người mới đến có thể khám phá bản sắc và vai trò của mình khi tăng dần mức độ gắn kết trong cộng đồng (từ ngoại vi sang trung tâm). Theo APQC (2001), cộng đồng thực hành có loại hình và qui mô. Một số ở dạng phi chính thức, mức độ gắn kết thấp và số khác là các nhóm có cấu trúc chặt chẽ, tuân theo các qui định được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, phần lớn sự khác nhau giữa các cộng đồng thực hành phụ thuộc vào mục đích chiến lược của nó.
Nhìn chung, mục đích chiến lược căn bản xác định loại tri thức và thực hành mà cộng đồng tập trung vào, các hoạt động chính nó cam kết tham gia cũng như cơ cấu của cộng đồng. Một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tri thức và cộng đồng thực hành đã chỉ ra các đặc điểm khác nhau của cộng đồng thực hành. Saint- Onge và Wallace (2003) đã hệ thống lại ba quan điểm dưới góc độ của nhà nghiên cứu, chuyên gia tư vấn và nhà thực hành về các yếu tố chính của cộng đồng thực hành (bảng 2. Cộng đồng thực hành đã tạo ra lợi ích đáng kể trong những năm gần đây vì các tổ chức đã công nhận vai trò của nó trong việc hỗ trợđáp ứng nhu cầu và mục tiêu kinh doanh.
APQC (2003) đã làm việc với hàng trăm tổ chức (từ nổi tiếng đến non trẻ) và nghiên cứu các sáng kiến quản lý tri thức của họ. Một phát hiện quan trọng là các công ty sử dụng cộng đồng thực hành như là nền tảng của quản lý tri thức và đã triển khai một số hoạt động quản lý tri thức trong các cộng đồng để tạo ra một cách tiếp cận tùy chỉnh nhằm đạt được các mục tiêu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các đặc điểm của cộng đồng thực hành Tác giả và quan Các nhân tố điểm Wenger, Lĩnh vực: Cộng đồng: Thực hành: McDermott&Snyder cơ sở kiến thức và lĩnh tập hợp các cá nhân và công việc của cộng (nhà nghiên cứu và vực hiểu biết của cộng vai trò tương ứng của đồng: các hành động, chuyên gia tư vấn) đồng họ hoạt động học tập, lưu trữ tri thức… Lesser, Fontaine & Con người: Địa điểm: Lĩnh vực: Slusher những người tương tác các nơi tập hợp, mặt cơ sở kiến thức và lĩnh (chuyên gia tư vấn - với nhau thường đối mặt hoặc trực vực hiểu biết của cộng Viện quản lý tri xuyên xung quanh các tuyến, cung cấp nền đồng thức IBM) vấn đề, sở thích, nhu tảng hội họp cho các cầu chung thành viên Saint-Onge & Thực hành: Con người: Năng lực: Wallace cơ sở kiến thức, các cộng đồng những cơ sở kiến thức, kỹ năng, qui trình và qui định người thực hành cùng khả năng, thái độ, (các nhà thực hành chỉ ra các hành động tham gia với nhau tìm thương hiệu, qui trình và quản lý tri thức) trong việc chuyển giao cách xây dựng năng các mối quan hệ - cái tạo một sản phẩm hay lực cần thiết để hiện nên năng lực đảm trách dịch vụ thực hóa các chiến công việc trong tổ chức.
lược kinh doanh Cầu nối giữa chiến lược và kết quả Nguồn: Saint-Onge & Wallace, 2003, trang 35 Trong hoạt động lưu giữ tri thức, cộng đồng thực hành có nhiều tiềm năng để hỗ trợ những nỗ lực như vậy (DeLong, 2004). DeLong đã dẫn chứng một cộng đồng thực hành sáng tạo đặc biệt – được thành lập xuyên công ty, giữa Siemens và BMW để giải TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 quyết những thách thức của việc mất đi những tri thứcchuyên môn do người lao động về hưu và nghỉ việc. Nhiều công ty đã phải đối mặt với tình trạng nghỉ hưu và tỉ lệ chuyển đổi nhân viên cao do sáp nhập, thu hẹp sản xuất, và nhân viên không hài lòng. Về vấn đề này, một trong những mục tiêu chính của cộng đồng là cho các thành viên thu thập và trao đổi thông tin về các phương pháp chuyển giao chia sẻ tri thức mà họ đang sử dụng để giảm bớt tổn thất do mất tri thức chuyên môn.
Thông qua việc tra soát lại lý thuyết về cộng đồng và cuộc phỏng vấn với bảy cộng đồng tham gia vào nghiên cứu của mình, Fontaine và Millen (2004) đã biên soạn một danh sách xác định các lợi ích cộng đồng. Cũng theo Fontaine và Millen, cộng đồng thực hành đã được báo cáo là có ảnh hưởng đến một hoặc một số các điểm trong danh sách.2 Khái niệm cộng đồng thực hành Dựa trên các nghiên cứu của Brown & Duguid, 1991; Lave & Wenger, 1991; Wenger, 1999; McDermott, 1999; Stamps 2000, có thể hiểu một cộng đồng thực hành của một cá nhân là bất cứ một nhóm chính thức hay phi chính thức nào mà từ đó họ thu được tri thức hoặc chia sẻ tri thức liên quan đến công việc của họ. Trong bài nghiên cứu “Xây dựng và duy trì cộng đồng thực hành: Những thành công tiếp nối trong quản lý tri thức” của APQC (2001) cho thấy rằng các cộng đồng có các hình thức khác nhau. Ví dụ, tại Daimler Chrysler, các cộng đồng thiết kế và kỹ thuật được gọi là các câu lạc bộ công nghệ.