CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh thái, phân bố và công dụng của cây Giáng hương 1. Đặc điểm sinh thái Giáng hương- Pterocarpus macrocarpus Kurz Tên khác: Giáng hương trái to, Giáng hương chân, Giáng hương căm-pôt Song lã. Họ Đậu - Fabaceae Bộ Đậu - Fabales Cây gỗ to, cao 15-25 m.
Gốc có bạnh, thân thẳng, vỏ màu nâu xám, bong thành mảng hay nứt dọc, có nhựa màu đỏ tươi. Lá kép lông chim một lần, lẻ, mang 7-13 lá chét. Cụm hoa hình chùy ở nách lá phía đỉnh cành, dài 10-15 cm. Hoa màu vàng nghệ, thơm.
Nhị 10 hàn liền thành ống hay thành hai bó. Quả đậu, gần như tròn, đường kính 5-8 cm, dẹt, có mũi cong về phía cuống, màu vàng nâu, giữa có 1 hạt, xung quanh là cánh rộng, có lông mịn. Hạt dài 9 mm có màu nâu sáng. Cây tái sinh bằng hạt và bằng chồi.
Thường gặp ở kiểu rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá, thích hợp với đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất thoát nước, cả đất đỏ bazan, ở độ cao tới 700-800 m. Loài này mọc trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám, đất đỏ bazan, nhưng sinh trưởng tốt nhất trên đất Feralit (đất đỏ vàng) và chịu được điều kiện đất khô xấu. Nó sinh trưởng trung bình trên đất sét. Đây là loài cây ưa đất bằng phẳng, thường thấy ở dọc sống suối, chân, sườn, đỉnh đổi, những nơi thoát nước, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, phong hóa từ các đá mẹ trầm tích và macma acid, độ pH thích hợp là 6,5 - 7,0, nhu cầu nước vừa phải.
Giáng hương rụng lá theo mùa vào tháng 1 - 2 trong năm, ra hoa vào cuối tháng 2 đầu tháng 3, quả chín ở tháng 11-12 và có màu nâu. Giáng hương có nhiều nốt sần ở rễ. Cây con trong vườn ươm thường có nốt sần từ rễ 3 cấp 2 trở đi (22-45 rễ/cây). Cây trưởng thành ở rừng trồng có nốt sần từ rễ cấp 4 trở đi.
Nốt sần có đường kính trung bình 2.85mm, mặt cắt ngang có màu nâu hồng. Trong các khu rừng nguyên sinh, Giáng hương thường mọc xen với các loài cây lá rộng khác như Gõ đỏ, Bằng lăng, Bình linh, Dầu chai, Chiêu liêu,… ít khi thấy mọc thành quần thụ ưu thế. Nhìn chung, cây Giáng hương là loại cây thân gỗ có tán lá rộng và dày, màu hoa vàng rất đẹp và tỏa hương thơm dịu nên rất phù hợp trồng làm cây công trình đô thị, trồng tại sân vườn hoặc trước hiên nhà để lấy bóng mát. Một số tỉnh (như Phú Yên) cũng lựa chọn Giáng hương là một trong những loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn.
Giáng hương phân bố ở những nơi có nhiệt độ trung bình năm 21,9 - 26,9ºC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 36,0 - 42,7ºC, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 1,7 - 15,0ºC, nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất 29,7 - 35,30C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất 10,4 - 20,9ºC, lượng mưa 1268,3 - 2172,1 mm/năm, lượng bốc hơi 867,1 - 1435,5 mm/năm, trên đất có hàm lượng các chất dinh dưỡng từ nghèo đến khá. Tỷ lệ che sáng thích hợp cho cây 6 tháng tuổi là 50%, 12 tháng tuổi là 25%, sau đó Giáng hương cần 100% ánh sáng tự nhiên. Phân bố Giáng hương phân bố chủ yếu trong rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá, mọc ở độ cao dưới 700-800m, thường mọc hỗn giao với một số loài cây lá rộng khác. Chẳng hạn như Giáng hương thường mọc ở ranh giới với rừng rụng lá cây họ Dầu (Dierocapaceae), mọc hỗn giao với một số loài cây lá rộng khác như Gõ đỏ (Afzelia xylocalpa), Muồng đen (Cassia siaema), Bằng lăng ( Lagerstromia sp.), Bình linh (Vitex sp.
Ưa đất có thành phần đất thịt nhẹ đến trung bình, phong hóa từ các đá trầm tích và macma acid, có khi cả trên đất đỏ bazan (Đặng Thị Thanh Thúy, 2006). Công dụng Gỗ đẹp, có mùi thơm, màu nâu hồng, mịn, có vân đẹp do vòng năm khá rõ ràng, tia rất nhỏ, mật độ cao; mạch to, tỷ trọng 0,84 - 0,90). Thuộc nhóm gỗ quý hiếm, có mùi thơm, hoa vân rất đẹp, được nhiều người ưu chuộng, dùng để làm đồ gỗ cao cấp và mặt hàng mỹ nghệ, ít bị nứt nẻ và không bị mối mọt. Ngoài ra nhựa còn có thể làm thuốc nhuộm màu đỏ (Đặng Thị Thanh Thúy, 2006).2 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật giâm hom * Các nghiên cứu về công nghệ giâm hom Nhiều nghiên cứu về thời vụ giâm hom, ảnh hưởng của ánh sáng và chế độ tưới đối với cây con trong giai đoạn vườn ươm của một số loài cây rừng cũng đã được tiến hành.
Kết quả cho thấy, hầu hết các loài được giâm vào mùa mưa có tỷ lệ hom ra rễ cao và thời gian ra rễ ngắn hơn. Một số loài có thể giâm hom quanh năm, có loài chỉ có thể giâm trong một mùa nhất định.Ví dụ, thời vụ giâm hom thích hợp đối với Thông Caribê khi tiết trời lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở các tỉnh phía Bắc, đối với Bạch đàn ở vùng Trung tâm Bắc Bộ từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Tuy nghiên, nếu tạo được môi trường giâm hom phù hợp và ổn định thì có thể kéo dài thời vụ giâm hom. Chế độ tưới nước cho Keo lai và Bạch đàn Urophylla trong vườn ươm ở giai đoạn huấn luyện cũng đã được Nguyễn Đức Minh và cộng sự nghiên cứu (2008).
Các tác giả đã xác định được lượng nước tưới có hiệu quả cao cho Keo lai là 70 - 80 ml/bầu/lần, Bạch đàn Urophylla là 90 ml/bầu/lần, chế độ tưới nước cho hom trong các NGH bằng hệ thống phun sương cho đến nay vẫn được xác định bằng kinh nghiệm: - Giai đoạn 1: từ lúc bắt đầu giâm hom khi hom chuẩn bị ra rễ (10 – 15 ngày), số lần tưới được xác định khoảng 5 – 7 giây/lần, giãn cách giữa 2 lần tưới từ 5 - 10 phút tuỳ thuộc thời tiết nóng ít hay nhiều. 5 - Giai đoạn 2: tiếp theo đến khi hom đã hoàn thiện quá trình ra rễ, thời gian tưới trong 1 lần tăng lên đến 10 - 15 giây và giãn cách giữa 2 lần tưới tới 15 phút. - Giai đoạn 3: trong vòng 1 tuần trước khi đưa hom ra ngoài vườn huấn luyện có dàn che nắng, vòm nilon giữ ẩm được gỡ bỏ để thoáng cho cây, số lần tưới trong ngày thưa hơn và gian tưới mỗi lần cũng tăng lên. Việc chọn chế độ tưới theo kinh nghiệm hiện nay không đúng với nhu cầu của cây con nên chưa tạo đựợc điều kiện tốt nhất cho quá trình ra rễ và phát triển của hom.
Trung tâm nghiên cứu Giống cây rừng đã tiến hành nhân giống thành công bằng nuôi cấy mô và giâm hom cho 1 số giống đã được cải thiện như Keo lai tự nhiên, Bạch đàn lai nhân tạo. Đến nay, Trung tâm đã nhân giống thành công cho khoảng 120 loài ưu trội thuộc 8 loài cây trồng rừng chủ yếu đã được chọn lọc qua khảo nghiệm và 1 số loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao. Phương pháp nhân giống bằng giâm hom cho Keo lai cũng liên tục được cải thiện, tỷ lệ hom ra rễ trung bình đạt trên 80%, tỷ lệ sống đạt xấp xỉ 90%. Các thí nghiệm giâm hom cho một số loài keo khác cũng cho kết quả tốt.
* Các nghiên cứu về NGH và hệ thống tưới Năm 1998-1999, Nguyễn Chí Trung phối hợp với Phòng Kỹ thuật Lâm sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu và xây dựng vườn giâm hom đồng bộ từ vườn giống gốc đến vườn huấn luyện tại ĐắkTô, KonTum. Trong dự án này, nhà giâm hom được xây dựng kiên cố với diện tích 100m2, dàn khung xung quanh và mái dùng thép định hình để gắn các tấm nhựa chắn gió và mưa. Các luống được xây bằng gạch có kích thước (1,2 x 10m) và cách nhau 0,45m. Nền và rãnh luống được láng vữa xi măng.
Vườn giống gốc được tưới bằng vòi phun mưa của Đài Loan, vườn giâm hom tưới bằng vòi phun mưa cường độ nhỏ theo mẫu của Mêhicô do Việt Nam sản xuất. Nhà giâm hom tưới bằng vòi phun mưa cường độ nhỏ theo mẫu của Mêhicô do Việt Nam sản xuất. Nhà giâm hom tưới bằng vòi phun sương chép mẫu 6 của Hà Lan có cải tiến và đây là lần đầu tiên, bộ điều khiển tự động theo thời gian với biên độ tưới từ 10 đến 30 giây, giãn cách giữa 2 lần tưới ở các mức 10 phút, 20 phút, 30 phút, 1giờ, 2 giờ và 3 giờ được sử dụng trong nhà giâm hom và làm việc tốt. Do yêu cầu của sản xuất, bộ điều khiển đã liên tục được cải tiến.
Đến nay, bộ điều khiển ký hiệu C7E-A08 có biên độ thời gian tưới từ 2 giây đến 2 phút và giãn cách giữa 2 lần tưới từ 2 phút đến 12h, có thể ứng dụng tưới cho cả vườn giâm hom và vườn giống gốc chứ không chỉ nhà giâm hom và đang được sử dụng ở rất nhiều địa phương trong nước. Nghiên cứu của Phạm Đăng Quốc (2000 - 2002), trong dự án 661 đã cải tiến một số kết cấu của nhà giâm hom, xác định bề rộng luống giâm, khoảng cách luống thích hợp thuận tiện khi tác nghiệp, tăng được hệ số sử dụng diện tích cho giâm hom (luống rộng: 1,2m, khoảng cách luống 0,5m, hệ số sử dụng diện tích đạt: 50 – 55%). Mái và vách nhà giâm hom được gắn các tấm nhựa compositte hình sóng màu trắng đục để che mưa, che gió. Mái che mưa cũng đã được cải tiến thành 2 cấp để tạo cửa thoát khí nóng tự nhiên từ trong nhà ra ngoài khi thời tiết nóng bức, giảm được nghiệt độ không khí trong nhà giâm hom.
Chế độ tưới tự động thời gian nhờ rơle bán dẫn tự chế điều chỉnh được nhiều mức với độ chính xác cao. Kiểu nhà giâm hom này phát huy tác dụng tốt trong một vài năm đầu. Sau đó, sự lão hoá của vật liệu tấm che và rêu mốc gây ra sự thiếu ánh sáng nghiêm trọng trong nhà giâm hom, nhất là vào những ngày mây mù, mưa nhiều,. Ngoài ra, do mái và vách cản trở quá trình thông gió tự nhiên nên khi trời nắng nóng, nhiệt độ nhà giâm hom tăng cao, dẫn đến tỷ lệ ra rễ thấp.
Tẩy rửa hoặc thay thế tấm che rất khó khăn và tốn công sức. Nhiều cơ sở sản xuất đã phải tháo bỏ các tấm nhựa che mái và vách thay bằng căng lưới che trên các luống giâm hom.