phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chƣơng và 7 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm khoa học - công nghệ và cách mạng khoa học - công nghệ 1. Khái niệm khoa học - công nghệ Khái niệm khoa học: Theo Từ điển Larousse (2002): Khoa học là một tập hợp tri thức đã đƣợc kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tƣợng tuân theo quy luật xác định.
Còn theo Từ điển Triết học (Liên xô - 1986) định nghĩa: Khoa học là lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tƣ duy; khoa học là một trong những hình thái ý thức xã hội. Cũng theo cuốn từ điển này những yếu tố của sự sản xuất tri thức (khoa học) gồm: các nhà khoa học (tri thức và năng lực; trình độ và kinh nghiệm; sự phân công và hợp tác khoa học); các cơ quan khoa học (trang thiết bị thực nghiệm và thí nghiệm); các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học; và những kết quả nghiên cứu (những tri thức, tiền đề…). Trong cuốn Từ điển Cobuild Leamer Dictionary (2001) khẳng định khoa học là những tri thức đạt đƣợc từ công việc nghiên cứu. Còn theo tác giả Nguyễn Khắc Viện (Từ điển xã hội học) khẳng định các nghĩa của khái niệm khoa học: (1) Khoa học là hình thái ý thức xã hội và là lực lƣợng sản xuất trực tiếp.
(2) Khoa học là dạng tri thức đƣợc chứng minh là đúng trong quá trình hoạt động thực tiễn. (3) Khoa học là một thể chế xã hội bao gồm những ngƣời làm khoa học và những cơ quan khoa học. Theo Khoản 1, Điều 3 Luật khoa học và công nghệ năm 2013 thì: Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tƣợng, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Với tác giả Vũ Cao Đàm thì khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy.
Nhƣ vậy, có rất nhiều định nghĩa về khoa học dựa trên các cách tiếp cận khác nhau, tổng hợp những định nghĩa trên về khoa học, có thể rút ra: * Khoa học: hệ thống tri thức. * Khoa học: hoạt động sản xuất tri thức. * Khoa học: hình thái ý thức xã hội. * Khoa học: thiết chế xã hội.
Ngoài ra, khoa học (tiếng Anh: science) là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dƣới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra đƣợc về vũ trụ. Thông qua các phƣơng pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thƣờng của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tƣợng. Một trong những cách thức đó là phƣơng pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tƣợng tự nhiên dƣới điều kiện kiểm soát đƣợc và các ý tƣởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lƣợng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy đƣợc.
Định nghĩa về khoa học còn đƣợc chấp nhận phổ biến rằng, khoa học là tri thức tích cực đã đƣợc hệ thống hóa. Khoa học theo nghĩa rộng đã tồn tại trƣớc kỷ nguyên hiện đại, và trong nhiều nền văn minh cổ, nhƣng khoa học hiện đại đánh dấu một bƣớc phát triển vƣợt bật khác biệt rất xa trong cách tiếp cận của nó so với thời kỳ trƣớc đó. Những thành công từ những kết quả mà nó mang lại đã làm cho định nghĩa khoa học theo nghĩa chặt chẽ hơn thì nó gắn liền với giai đoạn hiện nay. Khoa học theo nghĩa nguyên thủy của nó là một từ chỉ kiến thức hơn là một từ chỉ việc theo đuổi kiến thức.
Đặc biệt, nó là một loại kiến thức mà con 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời có thể giao tiếp và chia sẻ với nhau. Ví dụ, nhƣ kiến thức về sự vận động của những vật trong tự nhiên đã đƣợc thu thập trong thời gian dài trƣớc khi đƣợc chép thành lịch sử và dẫn đến sự phát triển tƣ duy trừu tƣợng phức tạp, nhƣ đƣợc thể hiện qua công trình xây dựng các loại lịch phức tạp, các kỹ thuật chế biến thực vật có độc để có thể ăn đƣợc, và các công trình xây dựng nhƣ các kim tự tháp. Tuy nhiên, không có sự phân định rõ ràng giữa kiến thức về những điều thực tế đã diễn ra trong mỗi cộng đồng và các kiểu kiến thức chung khác nhƣ thần thoại hoặc truyền thuyết. Unesco phân chia khoa học thành 7 nhóm chính, bao gồm: Toán học và các khoa học chính xác; Khoa học tự nhiên; Khoa học kỹ thuật và công nghệ; Khoa học nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngƣ nghiệp); Khoa học sức khỏe; Khoa học xã hội và nhân văn; Các khoa học triết học.
Ngoài ra còn có các ngành liên quan đƣợc nhóm lại thành các khoa học liên ngành và khoa học ứng dụng, chẳng hạn nhƣ khoa học kỹ thuật và khoa học sức khỏe. Các thể loại khoa học này có thể bao gồm các yếu tố của các ngành khoa học khác nhƣng thƣờng có thuật ngữ và cơ quan chuyên môn riêng. Khoa học thuần túy là các môn học bao gồm các phƣơng diện triết lý, tôn giáo, khoa học, tín ngƣỡng, xã hội học, nhân chủng học, chính trị học, luận lý học, đạo đức học, tâm lý học, phân tâm học, thần kinh học, ngôn ngữ học, tôn giáo học, huyền bí học. Khoa học ứng dụng là khoa học chính xác sử dụng các kiến thức thuộc một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để giải quyết những vấn đề thực tế.
Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với kỹ nghệ. Khoa học ứng dụng có thể sử dụng để phát triển công nghệ. Toán học, đƣợc phân loại là khoa học thuần túy, có cả sự tƣơng đồng và khác biệt với các ngành khoa học tự nhiên và xã hội. Nó tƣơng tự nhƣ khoa học thực nghiệm ở chỗ nó bao gồm một phƣơng pháp nghiên cứu khách quan, thận trọng và có hệ thống lĩnh vực kiến thức.
Nói là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác nhau vì để xác minh kiến thức, toán học sử dụng phƣơng pháp tiên nghiệm hơn là phƣơng pháp thực nghiệm. Khoa học thuần túy, trong đó bao gồm các số liệu thống kê và logic, có vai trò quan trọng đối với các ngành khoa học thực nghiệm. Các tiến bộ trong khoa học thuần túy thƣờng dẫn đến những tiến bộ lớn trong các ngành khoa học thực nghiệm. Các ngành khoa học thuần túy rất cần thiết trong việc hình thành các giả thuyết, lý thuyết và định luật, cả hai phát hiện và mô tả làm thế nào sự việc xảy ra (khoa học tự nhiên) và con ngƣời suy nghĩ và hành động nhƣ thế nào (khoa học xã hội).
Khái niệm công nghệ: Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, trong tiếng Hy Lạp: techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là “châm ngôn”) là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mƣu mẹo của con ngƣời. Công nghệ (tiếng Anh: technology) là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phƣơng pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, để đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ đến một tập hợp những công cụ nhƣ vậy, bao gồm máy móc, những sự sắp xếp, hay những quy trình. Công nghệ ảnh hƣởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con ngƣời cũng nhƣ của những động vật khác vào môi trƣờng tự nhiên của mình.
Thuật ngữ có thể đƣợc dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể, ví dụ nhƣ “công nghệ xây dựng” và “công nghệ thông tin”. Còn Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) cho rằng công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phƣơng pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thƣờng đƣợc đặc trƣng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc khoa học phát hiện ra gần đây nhất.
Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất nhƣ bánh xe cũng là một minh họa cho công nghệ. Một định nghĩa khác đƣợc sử dụng trong kinh tế học xem công nghệ nhƣ là trạng thái hiện tại của các kiến thức của chúng ta trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất các sản phẩm mong muốn (và kiến thức của chúng ta về việc sản xuất nhƣ thế nào). Nhƣ vậy chúng ta có thể thấy các thay đổi công nghệ khi kiến thức kỹ thuật của chúng ta tăng lên. Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể đƣợc hiểu: (1) Công nghệ đƣợc hiểu là công cụ hoặc máy móc (kỹ thuật) để con ngƣời giải quyết các vấn đề thực tiễn.
(2) Công nghệ cũng là các phƣơng pháp, các vật liệu, công cụ và các quy trình để giải quyết vấn đề. (3) Đặc điểm của sản phẩm đƣợc tạo ra nhờ công nghệ: hàng loạt, giống nhau. Khái niệm khoa học - công nghệ: Thuật ngữ khoa học - công nghệ là một từ ghép gồm hai quá trình. Khoa học - công nghệ chỉ xuất hiện nhƣ một chỉnh thể khi xuất hiện quá trình tự động hóa, tức là khi mà những ngƣời sản xuất phải tham gia trực tiếp vào quy trình công nghệ (con ngƣời chuyển từ chức năng vận hành máy móc sang tính toán, điều khiển, kiểm tra nhƣ một nhân tố bổ sung cho dây chuyền tự động, trở thành một phần của dây chuyền này).
Trong tiếng Việt, các từ “khoa học”, “kỹ thuật”, và “công nghệ” đôi khi đƣợc dùng với nghĩa tƣơng tự nhau hay đƣợc ghép lại với nhau (chẳng hạn “khoa học kỹ thuật”, “khoa học công nghệ”, và “kỹ thuật công nghệ”). Tuy vậy, công nghệ khác với khoa học và kỹ thuật. Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dƣới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra đƣợc về vũ trụ.