Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Đã có rất nhiều những bài nghiên cứu trên thế giới nhằm chỉ ra mối liên hệ giữa giá dầu và hoạt động của các Công ty nghành Dầu khí. Quan sát các yếu tố vĩ mô, giá dầu được nhiều người coi là yếu tố chính quyết định chính ảnh hưởng mạnh đến ngành dầu khí. Bởi vậy, Woraphorn and Termkiat (2012) đã có nghiên cứu “Oil Prices and Profitability Perfomance: Sector Analysis” nhằm làm rõ mối quan hệ giữa giá dầu thô và lợi nhuận của các ngành Công nghiệp khác nhau.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ các doanh nghiệp thuộc 11 ngành được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Thái Lan trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2010. Nghiên cứu được tác giả sử dụng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát kết hợp với mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên. Tác giả lấy ROA làm đại diện cho khả năng sinh lời, trong khi giá dầu, lãi suất, tổng tài sản và tỷ giá hối đoái là các biến độc lập. Do đó, nghiên cứu cho thấy rằng giá dầu thô có ảnh hưởng khá lớn đến lợi nhuận của 2 ngành hàng Năng lượng và Thực phẩm.
Hóa dầu cũng được đánh giá là chịu tác động tích cực từ giá dầu với mức đáng kể là 10%. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn hạn chế, giá hàng hóa và dịch vụ không được tính đến trong kết quả nghiên cứu, tương tự như sự thay đổi số lượng và sản phẩm dịch vụ theo biến động giá dầu. Ngoài ra, các tác giả đã không đề cập đến việc quản lý rủi ro trong các doanh nghiệp khác nhau trong nghiên cứu, dẫn đến một kết quả chỉ mang tính chất tương đối. Patrick (2017) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu suất sinh lời, cụ thể là trong Công ty tiếp thị Dầu khí ở Ghana.
Dữ liệu bài nghiên cứu được khai thác từ các công ty đã đăng kí trong ngành này và giới hạn ở 2 công ty, bao gồm Công ty TNHH Dầu Ghana và Tổng công ty Dầu khí Ghana để trả lời cho câu hỏi được đặt ra của nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng Mô hình hồi quy, trong đó nợ ngắn hạn và nợ dài hạn là hai yếu tố độc lập đại diện cho cấu trúc vốn. ROA, ROE và tỷ suất lợi nhuận ròng làm các biến phụ thuộc. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có thể cản trở khả năng sinh lời của các công ty, có nghĩa là các nhà quản trị nên tránh lạm dụng đòn bẩy mà nên coi đó là biện pháp cuối cùng.
Do 4 đó, một quyết định tối ưu hơn là tài trợ cho các dự án của họ bằng vốn chủ sở hữu và xác định cân nhắc cơ cấu để tối ưu hóa lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế về mẫu để có thể kết luận về ngành. Vijayakumar (2003) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành Dầu khí. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một loạt các biến bao gồm: tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ vòng quay tài sản cố định,… Kết quả cho thấy các biến độc lập giải thích được 93% sự biến động của lợi nhuận thu được từ các doanh nghiệp xăng dầu trong nghiên cứu.
Nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô, Tỷ lệ đòn bẩy, chi phí hoạt động trên doanh thu và khả năng tích hợp theo chiều dọc có đóng góp tiêu cực vào sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận trong ngành. Các biến khác lại cho thấy sự đóng góp tích cực vào sự thay đổi của lợi nhuận. Ajit và Han (2011) đã có bài viết “ Giá dầu và lợi nhuận kế toán của các công ty dầu khí” nhằm chỉ ra mối quan hệ giữa giá dầu thô, cấu trúc vốn, quy mô doanh nghiệp và các thước đo kế toán về hiệu quả hoạt động của 200 công ty dầu khí được niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2008. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính hằng năm của các công ty.
Nghiên cứu sử dụng các ước tính dựa trên bình phương nhỏ nhất của bảng điều khiển, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, ngoài ra cũng áp dụng thêm phương pháp tổng quát các công cụ ước tính thời điểm (GMM). Kết quả đã chỉ ra giá dầu thô có tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận kế toán (tiêu biểu là ROE) của các Công ty Dầu khí ở Bắc Mỹ. Điều này cho thấy rằng giá cả hàng hóa giúp thúc đẩy hoạt động tài chính của các ngành dựa trên hàng hóa. Nói cách khác, giá cả hàng hóa là yếu tố giải thích chi phối các thước đo kế toán về hiệu quả hoạt động trong các ngành công nghiệp dựa trên nguồn lực là hàng hóa.
Sorana và các cộng sự (2018) đã có bài viết “ Giải quyết thay đổi giá dầu thông qua lợi nhuận kinh doanh trong nghành dầu khí tại Vương Quốc Anh”. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu giá dầu thô và khối lượng giao dịch ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận của các công ty dầu khí ở Vương Quốc Anh kể từ cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2008. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 31 công ty dầu khí ở Anh giai đoạn 2006-2014. Tác giả đã áp dụng phân tích hồi quy so sánh, bao gồm cả phương pháp tổng quát của kỹ thuật ước tính thời điểm cho tập dữ liệu 5 bảng.
Kết quả cho thầy rằng các công ty dầu khí có lợi nhuận đã phải xoay sở để đối mặt với sự sụt giảm và phục hồi của giá dầu, tiêu biểu bởi các dòng tiền chủ yếu, vòng quay hàng tồn kho, hiệu quả sử dụng tài sản và tỷ lệ khả năng thanh toán cao. Mặc dù giá dầu và khối lượng giao dịch không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận và các tỷ lệ tài chính khác, tuy nhiên nếu giá dầu tiếp tục giảm, nó sẽ thay đổi cả nền kinh tế nước Anh cũng như là các công ty dầu khí. Để tồn tại được, các công ty phải thực hiện cắt giảm mạnh mẽ và tạm trì hoãn các khoản đầu tư, thường bằng chi phí dài hạn của hiệu suất tài sản. Sunil và các cộng sự (2013) đã có tác phẩm “Hoạt động thị trường chứng khoán và dầu khi giá cả lên xuống” nhằm xem xét các tác động bất đối xứng của những thay đổi của giá dầu hằng ngày đối với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ giá thị trường, tỷ lệ chênh lệch giá dầu, phương sai lợi nhuận và khối lượng giao dịch đối với ngành Dầu khí Hoa Kỳ cũng như phản ứng của lợi nhuận cổ phiếu liên quan đến những thay đổi tích cực của giá dầu.
Rủi ro cổ phiếu được đo lường bằng hệ số Beta thị trường bị ảnh hưởng nhiều bởi giá dầu tăng. Mặt khác, Beta dầu và phương sai hoàn vốn chịu nhiều ảnh hưởng bởi giá dầu tăng hơn là giá dầu giảm. Kết quả cho thấy lợi nhuận của Công ty Dầu khí, tỷ suất lợi nhuận thị trường, tỷ suất lợi nhuận từ dầu khí, phương sai lợi nhuận phản ứng không đối xứng với sự thay đổi giá dầu. Ngoài ra, những thay đổi tương đối của giá dầu cùng với các yếu tố cụ thể của công ty như quy mô, ROA, đònbẩy tài chính, tỷ lệ MBR là rất quan trọng trong việc xác định tác động của thay đổi giá dầu đối với lợi nhuận, rủi ro và khối lượng giao dịch của các công ty dầu khí.
Kunlapath và các cộng sự (2014) đã có nghiên cứu về Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Giá dầu và các chỉ số trên thị trường chứng khoán theo phương pháp Copula của các quốc gia khác nhau từ năm 1982 đến năm 2007. Tác giá đã loại trừ các Công ty Cổ phần Dầu khí khỏi chỉ số chứng khoán để loại bỏ mối liên hệ trực tiếp rõ ràng, chuỗi giá dầu được chuyển đổi thành nội tệ để tính đến các tác động tỷ giá hối đoái có thể xảy ra. Phương pháp Copula được sử dụng để mô hình hóa sự phụ thuộc chung giữa lợi nhuận cổ phiếu và lợi nhuận giá dầu. Kết quả cho thấy sự phụ thuộc giữa giá dầu và các chỉ số chứng khoán là yếu, phù hợp với kết quả tham khảo từ các nghiên cứu trước đó.
Các trường hợp ngoại lệ là đối với các chỉ số 6 chứng khoán của các nước sản xuất và tiêu thụ dầu lớn (Hoa Kỳ và Canada), những quốc gia được cho là có sự phụ thuộc tương đối mạnh vào giá dầu. Ngoài ra, sự ra đời của đồng Euro năm 1999 đã làm thay đổi đáng kể sự phụ thuộc giữa giá dầu và lợi tức cổ phiếu. Juan và các cộng sự (2014) đã có nghiên cứu Tác động của giá dầu đối với lợi nhuận cổ phiếu. Tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa Dầu mỏ và thị trường chứng khoán ở Châu Âu và Hoa Kỳ ở cấp độ tổng hợp và cấp ngành bằng cách sử dụng phân tích đa độ phân giải Wavelet.
Bằng chứng thực nghiệm từ tháng 6 năm 2000 đến tháng 7 năm 2011đã chỉ ra rằng sự thay đổi giá dầu không ảnh hưởng đến lợi nhuận của thị trường chứng khoán trong thời kì trước khủng hoảng ở cấp độ tổng hợp hoặc cấp ngành (ngoại trừ cổ phiếu của các Công ty Dầu khí). Ở cả 2 cấp độ, với sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài chính, các tác giả đã tìm thấy bằng chứng về sự phụ thuộc lẫn nhau tích cực giữa các thị trường này. Ngoài ra, kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, giá dầu dẫn dắt giá cố phiếu và ngược lại đối với tần số cao hơn, trong khi tần suất thấp hơn giá dầu và giá chứng khoán dẫn dắt nhau theo một cách phức tạp. Miramir và Cesario (2019) đã có nghiên cứu về ảnh hưởng lẫn nhau giữa Giá dầu, Thị trường chứng khoán và Hiệu quả hoạt động của các Công ty Dầu khí ở Châu Âu giai đoạn 2009-2019.
Kết quả cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa Dầu mỏ và Thị trường chứng khoán Châu Âu. Phản ứng của cổ phiếu đối với biến động giá dầu khác nhau ở các lĩnh vực. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy sự biến động giữa lợi nhuận và giá dầu của thị trường chứng khoán.