CHƯƠNG 1 Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố của văn hóa an toàn trong ngành dầu khí ảnh hưởng tới thái độ an toàn của người lao động trong ngành, kiểm tra vai trò của thái độ an toàn đến hành vi sai sót cá nhân và hành vi công dân an toàn. Trong chưong này, tác giả trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu cũng như ý nghĩa và đóng góp của của nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Vân hóa an toàn Theo Remawi et al. (2011), thuật ngữ văn hóa an toàn được phát triển sau sự cố hạt nhân Chernobyl năm 1986.
Nhiều định nghĩa về văn hóa an toàn đã xuất hiện trong các tài liệu học thuật nghiên cứu về an toàn. Hầu hết các định nghĩa xuất hiện trong các ngành sản xuất, chế tạo, khai thác mỏ, hạt nhân. McDonald & Ryan (1992) cho rằng, văn hóa an toàn là tập hợp các niềm tin, chuẩn mực, thái độ, vai trò, và các hoạt động xã hội và kỹ thuật liên quan đến việc giảm thiểu sự tiếp xúc của nhân viên, người quản lý, khách hàng và công chúng với các điều kiện nguy hiểm hoặc có thể gây thương tích. Meshkati (1997) thì định nghĩa văn hóa an toàn là tập hợp các đặc điểm và thái độ của các tổ chức và cá nhân được thiết lập như một ưu tiên hàng đầu, tầm quan trọng của các đặc điểm này đảm bảo cho các vấn đề an toàn nhận được sự chú ý của nhà máy hạt nhân.
Ngoài ra, Cox & Flin (1998) cho rằng văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm bao gồm giá trị, thái độ, nhận thức, năng lực của cá nhân, nhóm, và các hành vi thể hiện sự cam kết, phong cách chuyên nghiệp của hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn của tổ chức đó. Hầu hết định nghĩa văn hóa an toàn xuất phát từ các ngành công nghiệp ngoài ngành hàng không (ví dụ: điện hạt nhân, khai thác mỏ và sản xuất) (Reason, 1997). Tuy nhiên, Remawi et al. (2011) cho rằng có một số điểm tương đồng giữa các định nghĩa khác nhau này bất kể của ngành công nghiệp cụ thể.
Những điểm chung này bao gồm: - Văn hóa an toàn là một khái niệm được định nghĩa ở cấp nhóm hoặc cao hơn đề cập đến các giá trị được chia sẻ giữa tất cả các thành viên trong nhóm hoặc tổ chức. - Văn hóa an toàn quan tâm đến các vấn đề an toàn chính thức trong một tổ chức và liên quan chặt chẽ đến, nhưng không hạn chế, các hệ thống quản lý và giám sát - Văn hóa an toàn nhấn mạnh sự đóng góp của mọi người ở mọi cấp độ của một tổ chức. 9 - Văn hóa an toàn của một tổ chức có ảnh hưởng đến hành vi của các thành viên của tổ chức đó tại nơi làm việc. - Văn hóa an toàn thường được phản ánh trong hệ thống quản lý thưởng/phạt và hiệu suất an toàn.
- Văn hóa an toàn được phản ánh sự sẵn sàng phát triển của một tổ chức và học hỏi từ các sai sót, sự cố và tai nạn. - Văn hóa an toàn tương đối lâu dài, bền vững và có khả năng ít thay đổi (Westrum and Adamski, 1999). Theo Mohd Ariff et al. (2022), mô hình của speegle (2012) chỉ ra tám khía cạnh của văn hóa an toàn được nhóm lại theo mô hình như sơ đồ trong hình 2.
Tất cả các yếu tố của văn hóa an toàn được kết nối với nhau, và thành công của một yếu tố sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ hội thành công của yếu tố khác, speegle (2012) đã điều tra và giải quyết các khía cạnh văn hóa an toàn nói trên trong bối cảnh của ngành dầu khí. Theo hình ảnh dưới đây, tất cả các khía cạnh của văn hóa an toàn được tập trung vào các nhân viên làm việc trong ngành dầu khí. Sự ưu tiên trong hoạt động quản trị công ty sẽ đặt ra sứ mệnh và mục tiêu của hoạt động vận hành, trong đó có các vấn đề liên quan đến an toàn và sức khỏe. Các mối quan tâm về các mối nguy và rủi ro được mô tả bởi các bên liên quan trong hoạt động vận hành trước khi đưa ra quyết định, đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh (Speegle, 2012).1 Mô hình các thành phần của văn hóa an toàn của Speegle (2012) Nguồn: Speegle (2012) 2.2 Thái độ an toàn Theo Li et al.
(2020), thái độ an toàn đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiện an toàn của nhân viên. Đặc biệt, thái độ an toàn là một loại hoạt động tâm lý, tiềm ẩn nhưng tác động, chi phối trực tiếp hành vi của con người. Thái độ an toàn được coi là sự phản ánh ổn định và tổng quát của người lao động đế làm việc an toàn, điều này có thể giúp nhận ra tầm quan trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách an toàn, và thúc đẩy hơn nữa việc cam kết thực hiện các quy tắc, quy định về an toàn. Monazzam & Soltanzadeh (2009) nhận thấy rằng nếu người lao động quá lạc quan rằng sẽ không có tai nạn nào xảy ra với họ, họ có thể dễ gặp rủi ro và kết cục là bị thương.
Rau et al. (2020) đã chỉ ra rằng thái độ an toàn đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc dự đoán tai nạn giao thông và nơi làm việc.3 Hành vì công dân an toàn Hofmann et al. (2003) và Hofmann & Morgeson (1999) lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm về hành vi công dân an toàn. Cụ thể, đó là hành vi tự nguyện của nhân viên xây dựng nhằm đảm bảo hoạt động an toàn của các thành viên khác trong nhóm và đạt được các mục tiêu an toàn của dự án và tổ chức.
Người ta thấy rằng hành vi công dân an toàn rất quan trọng trong việc cải thiện hiệu suất an toàn của các nhóm làm việc và nhấn mạnh sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhân viên, để nâng cao hiệu quả của tổ chức (Li et al. Trên co sở này, Didla et al. (2009a) xác định thêm hành vi công dân an toàn là hành vi giúp đỡ các thành viên khác trong nhóm cải thiện an toàn một cách tự phát bên ngoài công việc, tiếp tục được coi là một yếu tố tham gia quan trọng vào sự an toàn của các nhóm làm việc. Các hành vi không an toàn góp phần chủ yếu gây nên các tai nạn trong xây dựng, gia tăng hành vi an toàn giữa các nhóm là yếu tố cần thiết để giảm thiểu tai nạn.
Hofmann et al. (2003) đề xuất rằng hành vi của công dân an toàn là một cấu trúc đa chiều bao gồm cả việc giúp đỡ đồng nghiệp, đề xuất phưong án an toàn, ý thức trách nhiệm, tự giác trao đổi về an toàn, đạo đức công dân và tự thay đổi. Curcuruto & Griffin (2018) đã đề xuất một mô hình bốn chiều của hành vi công dân an toàn theo bối cảnh cụ thể của ngành công nghiệp hóa chất, cụ thể là quản lý an toàn, cam kết mạnh mẽ, tiếng nói an toàn và tâm lý tính sở hữu. Liu et al.
(2020) đề xuất thêm một mô hình bốn chiều của hành vi của công dân an toàn: đề xuất phương án an toàn, nhận thức trách nhiệm, tham gia tích cực và giúp đỡ đồng nghiệp.4 Hành vi sai sót cá nhân Sai sót của con người là yếu tố đầu tiên đo lường hiệu quả an toàn của nhân viên trong ngành xây dựng bên cạnh thái độ của chính nhân viên đối với hành vi vi phạm (Alrehaili, 2016). Hành vi không an toàn và lỗi của con người là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến các sự cố nguy hiểm và thương tích nghề nghiệp. Ví dụ, Shin et al. (2015) ước tính rằng khoảng 88% sự cố tại nơi làm việc trong ngành xây dựng là do hành vi không an toàn, 10% là do điều kiện vật chất không an toàn và 2% do không lường trước được 12 các yếu tố hoặc 'Hành động của Chúa'.
Hầu hết các nhà nghiên cứu về an toàn dựa trên hành vi tập trung chủ yếu vào hành vi của người lao động mà có thể trực tiếp ngăn ngừa thưong tích tại nơi làm việc và cải thiện an toàn lao động (Hermann et al. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó không tập trung chính vào hành vi cá nhân bởi vì trong một số trường hợp, các yếu tố trong tổ chức có góp phần vào các hành vi không an toàn và sai sót, trực tiếp dẫn đến thương tích (Jitwasinkul et al. í 5 Lý thuyết trao đểì xã hội Theo thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964), thì các hành vi tương tác xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi. Mục đích của quá trình trao đổi là để tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa cái giá phải trả.
Theo học thuyết này, con người ta thường cân nhắc những lợi ích và nguy cơ tiềm ẩn của các mối quan hệ xã hội. Hầu hết các mối quan hệ, ở một mức độ nhất định, đều được hình thành từ việc cho- nhận. Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả mối quan hệ đều ngang bằng nhau. Thuyết trao đổi xã hội cho rằng chính việc con người ta cân đo đong đếm những lợi ích và những cái giá phải trả cho từng mối quan hệ sẽ xác định liệu một kết nối xã hội nào đó có được tiếp tục hay không.
Cái giá phải trả ở đây là những thứ được coi là tiêu cực với một cá nhân nào đó như việc phải đầu tư thời gian, tiền bạc và công sức vào một mối quan hệ. Lợi ích là những thứ mà cá nhân một người có được từ mối quan hệ như niềm vui, tình bạn, sự đồng hành và hỗ trợ xã hội. Thuyết trao đổi xã hội cho rằng, về bản chất, con người sẽ tiếp nhận lợi ích và gạt bỏ đi những cái giá tiêu cực để xác định mối quan hệ đó xứng đáng được gìn giữ tới đâu. Những mối quan hệ tích cực là những mối quan hệ mà ở đó lợi ích nhiều hơn những cái giá phải trả; ngược lại, những mối quan hệ tiêu cực xuất hiện khi cái giá phải trả lớn hơn lợi ích.
Phân tích lợi ích-giá phải trả đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi xã hội, nhưng mong đợi từ xã hội cũng đóng vào trò không kém cạnh.