Đặt vấn đề Cây đậu tương [Glycine max (L.) Merrill] là loại cây họ đậu (Fabaceae), có nguồn gốc từ Trung Quốc và hiện nay được trồng ở hầu hết ở các quốc gia trên thế giới. Đậu tương là cây trồng cạn ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao và có khả năng cải tạo đất rất tốt. Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí hợp lý sẽ góp phần tăng năng suất cả hệ thống cây trồng và giảm chi phí cho việc bón phân. Vì vậy, từ lâu việc trồng đậu3 tương đã được quan tâm và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam (Đường Hồng Dật, 2012).
Đậu tương đen có hàm lượng carotenoid (tiền viatmin A) 119,49 ug/100g, Omega 3 là 0,013 g/100g và Omega 6 là 7,475 g/100g, cao hơn so với đậu tương từ 12 – 60%. Ngoài ra, đậu tương đen có Protein (42,3%), Lipid (18,2%), carbonhydrate (25,9%), các vitamin (B1, B2, B12, PP, E, A, K, D, C.) các khoáng chất (canxi, sắt.) và giàu các chất có lợi cho sức khỏe như phytoestrogens, isoflavones, zybicolin. Phy-toestrogens có hiệu ứng chống estrogen trong mô sinh sản nên có thể giúp giảm nguy cơ ung thư do hormone như ung thư vú, ung thư tử cung và ung thư tuyến tiền liệt. Isoflavones có tác dụng giảm cholesterol, giảm nguy cơ các bệnh về tim mạch, ung thư, đái đường, cao huyết áp, loãng xương.
Axit salicylic (SA) được coi là một hormone thực vật tiềm năng vì vai trò điều tiết đa dạng của nó trong quá trình chuyển hóa ở thực vật. SA xử lý ngoại sinh hoặc được tổng hợp cao trong mô cũng có tác dụng giúp cây trồng chống lại các stress phi sinh học như nóng, mặn, hạn và lạnh (Popova et al. SA cũng đóng một vai trò trong quá trình hạt nảy mầm, tạo năng suất quả, quá trình đường phân, ra hoa ở thực vật (Klessig and Malamy, 1994), hấp thu và vận chuyển ion, hiệu suất quang hợp, sự đóng mở khí khổng và thoát hơi nước (Khan et al. SA đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc báo hiệu thiết lập một phản ứng bảo vệ chống nhiễm khuẩn trước các nguồn gây bệnh 11 khác nhau và khả năng đề kháng ở thực vật (Durner et al.
SA còn ảnh hưởng tới hoạt tính oxidase ở ty thể làm nhiệm vụ khử oxy tạo phân tử nước mà không tạo ATP và ảnh hưởng tới hàm lượng các gốc chứa oxy hoạt động trong ty thể. Ngoài ra, SA cũng ảnh hưởng đến proxidase hóa lipid, là enzyme có vai trò trong cơ chế kháng bệnh ở cây trồng. Việc phát triển đậu tương trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang gặp phải khó khăn do sự biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu tác động đến Việt Nam ngày càng rõ nét, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Để nâng cao tiềm năng năng suất cây trồng cần có các biện pháp phù hợp. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của axit salicilic đến cây đậu tương đen tại Gia Lâm , Hà Nội”.Việc nghiên cứu và đánh giá là cơ sở để tìm ra nồng độ axit salicilic thích hợp nhất cho cây đậu tương đen giúp cây phát triển sinh trưởng tôt nhất và cho năng suất hiệu quả nhất. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.Mục đích nghiên cứu Xác định được ảnh hưởng của axit salicylic đến sinh trưởng và phát triển, năng suất của cây đậu tương đen. Yêu cầu nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của axit salicylic đến các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh lý của cây đậu tương đen.
- Đánh giá được ảnh hưởng của axit salicylic đến các yếu tố cấu thành năng suất cua đậu tương đen. - Xác định được nồng độ của axit salicylic đạt hiệu quả đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây đậu tương đen. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12 - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung dữ liệu mới cho việc nghiên cứu sau này. - Kết quả nghiên cứu giúp hữu ích cho việc chăm sóc và tưới tiêu cho cây đậu tương đen là cơ sở khoa học cho việc sử dụng axit salicylic góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.
Phạm vi nghiên cứu Thí nghiệm được thực hiện tại Bộ môn Sinh lý thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam. 13 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây đậu tương đen.Nguồn gốc và phân loại. Đậu nành hay đỗ tương, hoặc đậu tương (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), là loài bản địa của Đông Á.
Loài này giàu hàm lượng chất đạm protein, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Cây đậu nành là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng. Sản phẩm từ cây đậu nành được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara. đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc.[3] Ngoài ra, trong cây đậu nành còn có tác dụng cải tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác.
Điều này có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ Đậu. Ngoài đậu tương vàng phổ biến thì đậu tương đen cũng đang được nghiên cứu và trồng khá nhiều vì những đặc điểm dinh dưỡng của nó. Đậu tương đen (đậu nành đen) là một nguồn protein hoàn chỉnh, nó chứa tất cả các axit amin cần thiết. Đậu tương đen giàu chất dinh dưỡng, chúng là một trongnhững nguồn axit béo omega-3 có nguồn gốc từ thực vật phong phú nhất và chúngchứa rất nhiều vitamin và khoáng chất bao gồm Vitamin A, Vitamin E, Sắt, Magiê, Kẽm và các axit amin thiết yếu để bảo vệ da, giúp da khỏe mạnh, trẻ trung và xây dựng cơ bắp.
Ngày nay, đến y học hiện đại cũng "tôn vinh" đậu tương đen vì những tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe con người. Đậu tương đen và đậu tương vàng có chung nguồn gốc nhưng giá trị dinh dưỡng lại có phần khác biệt khi đưa ra so sánh chi tiết về hàm lượng dinh dưỡng. Tương tự như đậu tương vàng, đậu tương đen có chứa protein, chất béo, hydrocacbon, các vitamin đặc biệt các vitamin B1, B2, B12, ngoài ra còn có các 14 vitamin PP, E, A, K, D, C… và các khoáng chất như kali, sắt. Nhưng đậu tương đen có hàm lượng Carotenoid (tiền vitamin A), Omega 3 và Omega 6 cao hơn so với đậu tương thường từ 10 - 60%.
Đậu tương đen chứa hàm lượng protein cao hơn đậu tương vàng khoảng 36-40%, cao gấp đôi so với thịt, gấp 3 lần so với trứng và gấp 12 lần so với sữa. Vì hàm lượng protein, kali, vitamin cao hơn nên có giá trị giải nhiệt rất tốt, lợi tiểu hơn và nhiều chất chống oxy hóa hơn đã biến hạt đậu tương đen cũng trở nên đặc biệt hơn. Ở Việt Nam, một số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây đậu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Ở miền Bắc nước ta Đậu tương được trồng tập trung ở các tỉnh miền núi và trung du: Sơn La, Cao Bằng, Hà Bắc… và đồng Bằng Sông Hồng.Đặc điểm thực vật học a.
Rễ Đậu tương là cây hai lá mầm có rễ cọc, rễ tập trung ở tầng đất mặt 30 – 40 cm, độ ăn lan khoảng 20 – 40 cm. Trên rễ có các nốt sần cố định đạm do vi khuẩn cộng sinh Rhizobium japonicum. Nốt sần hữu hiệu là nốt sần khi cắt ra có màu hồng. Bộ rễ phân bố nông sâu, rộng hẹp, số lượng nốt sần nhiều hay ít phụ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật trồng.
Thân Thân cây đậu tương thuộc thân thảo, có hình tròn, trên thân có nhiều lông nhỏ, khi thân non có màu xanh hoặc tím, khi về già chuyển sang màu nâu nhạt. Màu sắc thân còn non liên quan chặt chẽ đến màu sắc hoa sau này. Nếu thân màu xanh thì hoa màu trắng, thân màu tím thì hoa màu tím đỏ. Thân ít phân cành, có từ 14 -15 lóng, chiều cao cây trung bình từ 0,5 – 1,2m c.
Lá 15 Lá đậu tương gồm có các dạng lá theo từng thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây: lá mầm, lá đơn và lá kép. +Lá mầm: Lá mầm mới mọc có màu xanh lục hay vàng, khi tiếp xúc với ánh sáng có màu xanh. +Lá đơn: xuất hiện sau khi cây mọc từ 2-3 ngày và mọc phía trên lá mầm, mọc đối xứng nhau. +Lá kép: mỗi lá có 3 lá chét, mọc so- le, lá kép thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu.
Hoa Hoa đậu tương mọc thành chùm trung bình mỗi chùm có từ 7 – 8 hoa, hoa có màu tím hoặc trắng. Hoa đậu tương ra nhiều nhưng tỷ lệ đậu quả thấp dao động từ 20-30%. Quả Quả thuộc loại quả nang tự khai, số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗi chùm hoa và có thể đạt tới 400 quả trên một cây, mỗi quả trung bình có từ 2 – 3 hạt, có khi có 4 hạt. Quả mọc ra từ đốt cây đậu, những đốt ở phía gốc thường quả ít hoặc không có quả, từ đốt thứ 5-6 trở lên tỷ lệ đậu quả cao và quả chắc nhiều.
Trên cành thường từ đốt 2-3 trở lên mới có quả chắc, những quả trên đầu cành thường lép nhiều. Hạt Hạt có hình tròn, bầu dục, tròn dẹp, thường có màu vàng, vàng xanh hoặc nâu đen. Trong hạt, phôi thường chiếm 2%, 2 lá tử điệp chiếm 90% và vỏ hạt 8% tổng khối lượng hạt. Hạt to nhỏ khác nhau tuỳ theo giống, khối lượng một nghìn hạt (M1000 hạt) thay đổi từ 20-400g trung bình từ l00g-200g.
Rốn hạt của các giống khác nhau thì có màu sắc và hình dạng khác nhau, đây là một biểu hiện đặc trưng của các giống. Giá trị dinh dưỡng a. Giá trị về mặt thực phẩm 16 Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 35,5% – 40%. Trong đó hàm lượng protein trong gạo chỉ từ 6,2%- 12%, ngô 9,8%- 13,2%, thịt bò 21%, thịt gà 20%, cá 17%- 20% và trứng 13%- 14,8% , lipit từ 15%- 20%, hidratcacbon từ 15%-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống ( Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thị Thư, 2004).
Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời về cả protein và lipit. Protein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số protein có nguồn gốc thực vật.