Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu hàng hoá và ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại tự do đến nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) đến nhập khẩu hàng hoá tại Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ HBS Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Trung Quốc của công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ HBS Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐẾN NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về nhập khẩu 2. Khái niệm về nhập khẩu Kể từ khi nước ta tiến hành hội nhập với nền kinh tế thế giới, cụm từ “nhập khẩu” xuất hiện và được đề cập rất nhiều.
Có nhiều khái niệm và định nghĩa cho cụm từ này theo những cách khác nhau, trên những phương diện khác nhau. Theo khoản 2, Điều 28 của Luật Thương mại 2005 do Quốc hội ban hành ngày 14/06/2005 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo giáo trình “Kinh doanh quốc tế” (2021) của tác giả PGS. Doãn Kế Bôn và TS. Lê Thị Việt Nga, trường Đại học Thương mại: “Nhập khẩu, nhìn chung là hoạt động mua hàng hóa hoặc dịch vụ vượt qua biên giới của một quốc gia, khi đó người bán (nhà xuất khẩu) và người mua (nhà nhập khẩu) có trụ sở kinh doanh ở hai quốc gia khác nhau, hàng hóa/dịch vụ có sự di chuyển qua biên giới quốc gia.
Có thể hiểu đơn giản, nhập khẩu là hoạt động ngoại thương trong đó người nhập khẩu thực hiện các thủ tục hải quan cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm đưa hàng hóa từ nước ngoài hoặc từ một khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam vào một địa điểm cụ thể trên lãnh thổ Việt Nam. Vai trò của nhập khẩu Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành nên ngoại thương, vì vậy, nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thương mại quốc tế nói riêng và nền kinh tế nói chung, cụ thể: Đối với doanh nghiệp: Thứ nhất, nhập khẩu giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm, dịch vụ từ nước ngoài với chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, giá thành cạnh tranh dễ dàng thâm nhập vào thị trường nội địa, từ đó, buộc doanh nghiệp sản xuất trong nước phải không ngừng đổi mới, cải tiến 8 công nghệ, nâng cao chất lượng, dịch vụ sản phẩm và hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa. Thứ hai, nhập khẩu giúp nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp.
Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên phạm vi quốc tế, có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán… Điều này giúp thành viên doanh nghiệp học hỏi thêm được nhiều kinh nghiệm, kiến thức từ các nền văn hoá khác, bên cạnh đó, cũng yêu cầu các cá nhân trong doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới, học hỏi, nâng cao nghiệp vụ để hoàn thành tốt công việc của mình. Thứ ba, hoạt động nhập khẩu hàng hoá có vai trò làm tăng thể lực và uy tín của doanh nghiệp cả ở thị trường trong nước và trị thường quốc tế. Doanh nghiệp có thể sử dụng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đem lại để mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động cũng như giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện và phát triển các mối quan hệ trong kinh doanh. Đối với nền kinh tế: Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời cũng đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.
Với sự phát triển của công nghệ, hàng hoá hầu như đều được cải tiến từng ngày theo hướng hiện đại hơn, đặc biệt là các sản phẩm về máy móc, thiết bị. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm này có thể được đưa vào thị trường quốc gia, qua đó giúp doanh nghiệp nhập khẩu tiếp nhận được công nghệ hiện đại, theo kịp sự phát triển của thế giới. Thứ hai, nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất hàng hóa trong nước, từ đó nâng cao khả năng sản xuất trong nước và giúp quốc gia khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của mình. Điều này có nghĩa là, các quốc gia không cần tự chịu trách nhiệm cho toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa mà có thể nhập khẩu từ quốc gia khác.
Điều này giúp quốc gia chuyên môn hóa, tập trung vào thế mạnh sản xuất của mình. Qua đó, các quốc gia khai thác được hiệu quả lợi thế so sánh, tiết kiệm chi phí, tiền bạc và thời gian. 9 Thứ ba, nhập khẩu bù đắp, bổ sung kịp thời những thiếu hụt về cầu do sản xuất trong nước không đáp ứng được gây mất cân đối của nền kinh tế. Khi sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, tình trạng mất cân bằng cung cầu xảy ra, và có thể dẫn đến người bán nâng cao giá thành sản phẩm do hàng hóa khan hiếm.
Nhờ nhập khẩu, nguồn thiếu hụt này được bù đắp, tình trạng mất cân bằng được hạn chế. Hơn nữa, hoạt động nhập khẩu còn tạo nên sự phong phú về mặt hàng, chủng loại, quy cách, mẫu mã, chất lượng các loại hàng hóa cho thị trường trong nước cũng như tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội. Từ đó góp phần tạo ra sự cân đối giữa cung và cầu trong nước, đảm bảo cho sự phát triển cân đối và ổn định. Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu cũng tạo cơ sở để nước ta mở rộng quan hệ với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.
Thông qua thương mại quốc tế nói chung và nhập khẩu nói riêng, các quốc gia đặt mối quan hệ hợp tác với nhau… 2. Các hình thức của nhập khẩu Một số hình thức phổ biến của nhập khẩu bao gồm: a) Nhập khẩu trực tiếp hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh Đây là hình thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp khi trực tiếp nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mà không thông qua bất kỳ tổ chức trung gian nào khác. Khi thực hiện hình thức nhập khẩu tự doanh, doanh nghiệp phải tự mọi trách nhiệm pháp lý về hoạt động của mình. b) Nhập khẩu ủy thác Đây là hoạt động mà doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu, làm thay cho đơn vị cần nhập khẩu những thủ tục cần thiết để có thể nhập hàng và hưởng phần trăm chi phí ủy thác theo giá trị hàng nhập khẩu.
Doanh nghiệp nhận ủy thác không phải bỏ vốn, xin hạn ngạch, không cần nghiên cứu thị trường hàng nhập mà chỉ đóng vai trò làm đại diện bên ủy thác giao dịch với nước ngoài, ký kết hợp đồng và làm các thủ tục nhập khẩu khác cũng như khiếu nại, đòi bồi thường khi có tổn thất. Bên ủy thác chịu trách nhiệm nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng, đối tượng giao dịch và chi trả mọi chi phí liên quan. c) Nhập khẩu liên doanh Đây là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp và cần có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp để phối hợp 10 kỹ năng cùng giao dịch và đề ra chủ trương, biện pháp liên quan đến nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu theo hướng này có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc có lãi cùng chia, lỗ cùng chịu. d) Nhập khẩu đổi hàng Đây là phương thức trao đổi hàng hóa, trong đó nhập khẩu và xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhau, người bán cũng là người mua, lượng hàng trao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.
Mục đích của hoạt động này là thu lãi từ hoạt động nhập khẩu và cả xuất khẩu. Loại hình này có sự cân bằng giữa hàng xuất khẩu và nhập khẩu về mặt hàng, giá cả, điều kiện giao hàng. e) Nhập khẩu tái xuất Nhập khẩu tái xuất chỉ hoạt động nhập khẩu vào trong nước để tiếp tục xuất sang một nước khác với mục đích thu lợi nhuận. hình thức này thu hút ít nhất ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất.
Doanh nghiệp tái xuất cần thực hiện song song hai hợp đồng: Một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu. f) Nhập khẩu theo đơn đặt hàng Đây là hình thức đơn vị ngoại thương chịu mọi chi phí và rủi ro để nhập khẩu hàng hóa cho đơn vị đặt hàng trên cơ sở đơn đặt hàng của đơn vị đặt hàng, đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền. Tổng quan về Hiệp định Thương mại tự do 2. Khái niệm Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước giữa hai hay nhiều quốc gia trong đó các quốc gia thỏa thuận về các nghĩa vụ nhất định tác động đến thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, và các lĩnh vực khác.
Theo chính sách thương mại tự do, hàng hóa và dịch vụ có thể được mua và bán qua biên giới quốc tế với mức thuế rất thấp hoặc bằng 0. Hạn ngạch, trợ cấp hoặc các biện pháp cấm của chính phủ là rào cản của thương mại. Phân loại Theo số lượng và khu vực địa lý của các nền kinh tế thành viên, các FTA được phân loại như sau: 11 Thứ nhất, FTA song phương: là FTA giữa 2 đối tác. Ví dụ: FTA giữa Việt Nam với Chile, FTA giữa Việt Nam với Nhật Bản.
Thứ hai, FTA khu vực: là FTA giữa nhiều đối tác trong cùng một khu vực.