Chương 1: Cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 4: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC C LIÊN QUAN Nội dung chương một này bao gồm: - Giải thích các hái niệm và thuật ngữ có liên quan. - Trình ày và phân t ch những l thuyết nền tảng có liên quan. Các khái niệm có liên quan 1.
áo cáo thƣờng niên Trong thuật ngữ của hệ thống kế toán tài chính Việt Nam, BCTN là một tài liệu được công bố hàng năm ởi các công ty đại chúng cung cấp cho các cổ đông nhằm mô tả chi tiết về hoạt động và tình hình tài chính của công ty. BCTN bao gồm hai phần: Phần đầu bao gồm các thông tin ghi lại hoạt động của công ty trong năm trước đó, phần sau gồm các thông tin chi tiết về tình hình tài chính và hoạt động của công ty. BCTN không chỉ th hiện những kế hoạch, lợi nhuận và các hoạt động trong năm vừa qua mà còn th hiện kế hoạch, lợi nhuận của công ty trong thời gian tới. Thông qua BCTN năm cũ và những tri n vọng trong năm mới, tốc độ tăng trưởng của công ty sẽ được th hiện một cách rõ ràng và chi tiết nhất qua từng con số, bi u đồ cùng những hoạt động đầy ấn tượng về các kế hoạch đã hoàn thành, các dự án mới sắp được tri n hai Hơn nữa, BCTN sẽ đi sâu vào phân t ch những mặt ưu – khuyết đi m của công ty và cho thấy được tiềm năng phát tri n cũng như cách hắc phục cho những năm tiếp theo.
Những ài áo cáo được thiết kế đẹp với những thông tin, số liệu được lồng ghép một cách trực quan, sinh động sẽ giúp chúng ta có những cái nhìn rõ nét nhất về quá trình hoạt động của công ty. Có th nói, BCTN tựa như những trang lịch sử tổng hợp những thành tựu của cả công ty trong suốt một năm hoạt động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Nếu một công ty xem BCTN như là một cơ hội đ chia sẻ, trao đổi với các nhà đầu tư, là công cụ đ giải trình sâu hơn về các thông tin, tình hình quản trị, quản lý tài chính của công ty, BCTN sẽ giúp công ty đó có nhiều cơ hội đ tiếp cận và thu hút được những nguồn vốn mới dài hạn. Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp những thông tin mô tả về tình hình kinh doanh, tài ch nh cũng như dòng tiền của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua.
BCTC được lập theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài ch nh, áo cáo lưu chuy n tiền tệ,… Tất cả các doanh nghiệp đều phải lập BCTC vào cuối kỳ kế toán năm Riêng những công ty niêm yết trên TTCK, ngoài BCTC năm còn có BCTC giữa niên độ được lập theo quy định. BCTC được lập ra nhằm hỗ trợ cho việc ki m tra, giám sát cũng như có tầm quan trọng trong việc phân tích kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu có liên quan đ từ đó đề ra các quyết định quản lý hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, BCTC có nghĩa quan trọng đối với các đối tượng sử dụng và cũng được các nhà đầu tư quan tâm xem x t trước khi ra quyết định kinh tế.
Rủi ro Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, rủi ro luôn gắn liền với quá trình đầu tư và phát tri n. Khi thực hiện việc đầu tư, các nhà đầu tư luôn mong muốn sẽ tối đa hóa lợi nhuận, thu được một hoản lợi nhuận nào đó trong tương lai, tuy nhiên hông th chắc chắn về điều này, đây ch nh là rủi ro Định nghĩa về rủi ro đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất, những trường phái khác nhau, những nhà nghiên cứu khác nhau sẽ định nghĩa rủi ro theo những cách khác nhau. Định nghĩa về rủi ro rất phong phú và đa dạng, nhưng chung quy lại vẫn chia làm hai nhóm chính: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo nhóm thứ nhất, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất, điều không tốt Nó được xem là sự tổn thất về mặt tài sản hay giảm sút về mặt lợi nhuận, những tác động không mong muốn xảy ra với doanh nghiệp, mang đến kết quả xấu cho sự tồn tại và phát tri n của doanh nghiệp. Theo nhóm thứ hai, rủi ro là sự không chắc chắn, là khả năng xảy ra thiệt hại cho doanh nghiệp do các tình huống có th xảy ra.
Theo ISO 31000:2009, rủi ro được định nghĩa: “Tác động của sự không chắc chắn lên mục tiêu” “Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là những khả năng của kết quả bất lợi” được tác giả Phan Thị Bích Nguyệt đề cập đến trong cuốn Đầu tư tài ch nh (2006). Rủi ro theo định nghĩa này có th đo lường được, có th hi u theo nghĩa t ch cực hoặc tiêu cực. Rủi ro có th mang đến những tổn thất nhưng cũng có th mang lại những lợi ích. Nếu có th nghiên cứu rủi ro tìm ra được những biện pháp đ khắc phục, hạn chế những rủi ro tiêu cực có th mang đến kết quả tốt hơn cho doanh nghiệp.
Rủi ro có những đặc đi m như sau: - Rủi ro có tính bất định, có th ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp một cách tích cực hoặc tiêu cực. - Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn, không mang tính chắc chắn, luôn thay đổi theo các yếu tố tác động liên quan. - Rủi ro có th đo lường được thông qua đánh giá về mức độ tần suất và hậu quả rủi ro Từ đó, các phân tích nêu trên có th được tổng hợp đ rút ra được định nghĩa khái quát về rủi ro như sau: “Rủi ro mang tính chất khách quan, có thể mang đến những kết quả bất lợi so với dự tính ban đầu của con người.” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Công bố th ng tin iên quan đến rủi ro 1.
Khái niệm Công bố thông tin được hi u là các tổ chức, các định chế phải cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời, chính xác những thông tin định kỳ và bất thường liên quan đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng BCTC đ nhà đầu tư có th đưa ra quyết định chính xác mang t nh inh tế Đây là một trong những nguyên tắc cơ ản trong hoạt động của thị trường chứng khoán. Công ố thông tin được xem là điều iện đ thúc đẩy thị trường chứng hoán phát tri n mạnh mẽ hơn. Việc công bố thông tin đầy đủ giúp giảm thi u tình trạng thông tin bất cân xứng giữa các chủ th bên trong và ngoài doanh nghiệp, từ đó có th giúp các nhà đầu tư đánh giá được chính xác năng lực của công ty, đ có th đưa ra quyết định phù hợp. Vấn đề thông tin bất cân xứng có th làm gia tăng chi ph huy động vốn do các nhà đầu tư thiếu thông tin về tình hình dự án mà mình sẽ đầu tư cũng như hông tin tưởng vào hoạt động của Ban giám đốc công ty.
Vì vậy, đ giải quyết vấn đề này, thông tin phải được công bố một cách đầy đủ và trung thực nhất Công bố thông tin là một vấn đề mang nghĩa rộng và bao quát, ao hàm rất nhiều h a cạnh hác nhau. Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả muốn nghiên cứu đến một h a cạnh của việc công bố thông tin, đó là công bố thông tin rủi ro của các công ty niêm yết trên TTCK. Từ đó, các định nghĩa về công bố thông tin rủi ro được tác giả tổng hợp lại và trình ày theo nội dung ên dưới. Theo Beretta & Bozzolan (2004), việc công bố thông tin rủi ro ngoài th hiện thông tin liên quan về rủi ro, cần phải trình ày thêm thông tin về chiến lược, nội dung và hiệu quả hoạt động cũng như những yếu tố bên ngoài có khả năng ảnh hưởng đến kết quả được vạch ra của doanh nghiệp Một định nghĩa hác được đưa ra ởi Linsley & Shrives (2006): Công bố thông tin rủi ro sẽ cung cấp cho người đọc bất ì cơ hội, tiềm năng hoặc nguy hi m đã hoặc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 sẽ tác động đến công ty trong tương lai và công tác quản lý của doanh nghiệp cho những vấn đề đó Đây có th được xem là một định nghĩa rộng, bao quát nhất về rủi ro.
Beretta & Bozzolan (2004) cũng cho rằng chất lượng thông tin rủi ro phụ thuộc cả về số lượng cũng như sự phong phú mà thông tin mang lại. Số lượng thông tin rủi ro ở đây được hi u như mức độ công bố thông tin rủi ro được th hiện thông qua con số tuyệt đối của lượng thông tin liên quan đến rủi ro được công bố bởi các công ty. Các hình thức công bố thông tin liên quan đến rủi ro phải tuân theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán quốc tế, đồng thời theo quy định của từng quốc gia về mặt nội dung và hình thức trình bày như: Anh có chuẩn mực FRR 48, Malaysia có chuẩn mực FRS 132,. Công bố thông tin rủi ro cũng chịu ảnh hưởng bởi các yêu cầu về chuẩn mực thông qua việc ban hành các chuẩn mực kế toán (ví dụ như IAS 32, IAS 39, IFRS 7 và IFRS 8) làm cơ sở cho các báo cáo rủi ro.
Đối với các quốc gia chưa có quy định riêng về công bố thông tin liên quan đến rủi ro thì sẽ căn cứ vào chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đ lựa chọn chính sách phù hợp. Việc công bố này mang tính chất tự nguyện, vì vậy có th dẫn đến việc hó hăn cho các công trình nghiên cứu.