Mở đầu cho các nghiên cứu trước đây là lập luận quy mô hội đồng quản trị nhỏ thì doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả vì với hội đồng quản trị nhỏ sẽ giúp công ty quản trị và phối hợp tốt hơn. Điều này được thể hiện trong các nghiên cứu sau: Yermack (1996) trong nghiên cứu “Higher market valuation of companies with a small board of directors – Các công ty có giá trị thị trường cao với hội đồng quản trị nhỏ” đã tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô hội đồng quản trị với giá trị công ty của 452 công ty lớn thuộc ngành công nghiệp Mỹ trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 1999. Bằng chứng hỗ trợ tích cực cho mối quan hệ nghịch biến này là các chỉ số tài chính trong đó có lợi nhuận hoạt động giảm khi quy mô hội đồng quản trị tăng lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Cùng với quan điểm này là nghiên cứu của Eisenberg và cộng sự (1998) với nghiên cứu“Larger board size and decreasing firm value in small firms – Quy mô hội đồng quản trị lớn và việc giảm giá trị công ty trong những công ty nhỏ”.
Nghiên cứu được thực hiện với các công ty vừa và nhỏ ở Phần Lan. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và khả năng sinh lợi của công ty. Giải thích cho vấn đề này, tác giả nhận định (1) là do các công ty có quy mô hội đồng quản trị nhỏ thì quản lý chặt chẽ hơn các công ty có quy mô hội đồng quản trị lớn và (2) là đối với quy mô hội đồng quản trị lớn thường có nhiều người bên ngoài, những người này thường đưa ra những quyết định đầu tư cẩn thận hơn vì danh tiếng cá nhân của họ có thể bị ảnh hưởng khi ra quyết định đầu tư không hợp lý. Cũng đồng ý kiến với các nghiên cứu trên, năm 2002, Mak và Kusnadi đã thực hiện nghiên cứu “Size really matters: further evidence on the negative relationship between board size and firm value – Quy mô thực sự quan trọng: thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa quy mô hội đồng quản trị và giá trị công ty”.
Bài nghiên cứu được thực nghiệm đồng thời tại hai quốc gia là Singapore và Malaysia từ năm 1999 đến 2000. Bằng chứng từ mô hình hồi quy cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô hội đồng quản trị với giá trị công ty ở cả Singapore và Malaysia. Với kết quả tìm được, nghiên cứu cho rằng quy mô hội đồng quản trị ảnh hưởng khác nhau đến hệ thống quản trị doanh nghiệp bởi vì không có một quy mô cố định, thống nhất cho quản trị trong việc muốn gia tăng giá trị công ty. Như ở Singapore, các tác giả tìm thấy tuổi công ty, quy mô công ty ảnh hưởng đến giá trị công ty nhưng ở Malaysia thì thấy có ảnh hưởng từ cổ đông lớn, tuổi công ty và đòn bẩy.
Mặt khác, một số nghiên cứu khác lại cho rằng với quy mô hội đồng quản trị lớn sẽ có được sự quản lý, tư vấn chiến lược kinh doanh từ các thành viên hội đồng quản trị qua đó nâng cao giá trị công ty. Năm 2005, Coles và cộng sự với nghiên cứu “Boards: does one size fit all? – Hội đồng quản trị: không một quy mô cố định cho tất cả?” đã cho thấy có mối tương quan cùng chiều giữa giá trị doanh nghiệp và cơ cấu hội đồng quản trị. Điều mà trái ngược TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 với nghiên cứu của Yermack (1996), Eisenberg và cộng sự (1998), Mak và Kusnadi (2002). Nguyên nhân được tác giả giải thích là do quy mô hội đồng quản trị lớn hơn sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết tốt hơn các hoạt động kinh doanh phức tạp của họ.
Các thành viên của hội đồng quản trị lớn hơn cũng có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn tiềm năng để góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp. Một nghiên cứu khác cũng nhất quán với kết quả được tìm thấy của Coles và cộng sự (2005) là nghiên cứu của Darmadi (2011) với nghiên cứu “Board size and firm value: new evidence from two-tier board system – Quy mô hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp: bằng chứng mới từ hệ thống hội đồng quản trị hai cấp”. Nghiên cứu thực hiện tại Indonesia đã cho thấy quy mô của cả Ban kiểm soát và Ban quản lý công ty có ảnh hưởng tích cực đến giá trị công ty và đây là mối tương quan cùng chiều giữa quy mô hội đồng quản trị với giá trị doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là quy mô hội đồng quản trị là tín hiệu cho chất lượng của công ty.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy định dưới giá có mối tương quan thuận với quy mô hội đồng quản trị. Với những tác động của quy mô hội đồng quản trị đến giá trị doanh nghiệp, đây có thể xem là một tín hiệu tốt trong việc thu hút các nhà đầu tư tiềm năng. Do đó, trong bối cảnh IPO, quy mô hội đồng quản trị được xem là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến định dưới giá. Bằng chứng hỗ trợ là các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện rất nhiều trên thế giới.
Mnif (2009) với nghiên cứu “Board of directors and the pricing of initial public offerings (IPOS): Does the existence of a properly structured board matter? Evidence from France - Hội đồng quản trị và giá của cổ phiếu IPOs: có tồn tại hay không vấn đề cơ cấu hội đồng quản trị phù hợp? Bằng chứng từ Pháp” đã cung cấp bằng chứng cho thấy hội đồng quản trị như là một tín hiệu chất lượng của công ty để giảm thiểu bất cân xứng thông tin. Dựa vào thuyết tín hiệu và thuyết đại diện, tác giả đã khẳng định có sự tồn tại riêng biệt của cơ cấu hội đồng quản trị và đây là tín hiệu ổn định để cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư tiềm năng thông qua mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và định dưới giá tại Pháp của 133 công ty IPO từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Từ đó, tác giả khẳng định việc lựa chọn cấu trúc hội đồng quản trị là một chiến lược quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Darmadi và Gunawan (2012) với “Underpricing, Board structure and Ownership: an empirical examination of Indonesian IPO Firms – Định dưới giá, cơ cấu hội đồng quản trị và quyền sở hữu: một bằng chứng thực nghiệm của các công ty IPO ở Indonesia”.
Tác giả lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa định dưới giá và quy mô hội đồng quản trị. Với kết quả tìm được, tác giả cho rằng quy mô hội đồng quản trị lớn hơn thì được kỳ vọng giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp IPO với các nhà đầu tư tiềm năng. Do đó, trong các đợt IPO, quy mô hội đồng quản trị lớn hơn được sử dụng để giảm bớt những biến động về giá trị doanh nghiệp hơn là phát đi tín hiệu về chất lượng của doanh nghiệp. Nhưng, Wu và Hsu (2012) trong bài nghiên cứu“Corporate governance characteristics and underpricing: Evidence from the AIM – Đặc điểm của quản trị doanh nghiệp và định dưới giá: bằng chứng từ thị trường đầu tư thay thế” đã không tìm thấy có mối quan hệ giữa định dưới giá với quy mô hội đồng quản trị và tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập khi nghiên cứu 235 công ty IPO trong giai đoạn 1998 - 2002 tại thị trường không chính thức ở Anh.
Từ đó, tác giả cho rằng các nhà đầu tư trên AIM có thể không nhất thiết phải xem lợi ích giám sát của cơ cấu hội đồng quản trị và quyền sở hữu quản lý là tín hiệu quan trọng của công ty. Ngoài ra, trong cơ cấu hội đồng quản trị thì một yếu tố khác cũng được đề cập rộng rãi trong các nghiên cứu là thành phần hội đồng quản trị hay là tính độc lập của hội đồng quản trị. Jensen và Meckling (1976) và Williamson (1985) lập luận rằng hội đồng quản trị được điều hành bởi người bên ngoài có thể giúp giảm thiểu các vấn đề về chi phí đại diện bằng cách quản lý công ty một cách hiệu quả hơn. Nhưng, Demb và Neubauer (1992) thì cho rằng giám đốc độc lập có thể cũng thiếu độc lập do tác động từ nội bộ.
Nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy thành phần hội đồng quản trị đối với giá trị doanh nghiệp nhiều kết quả trái ngược nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Agrawal và Knoeber (1996) với nghiên cứu“Firm performance and mechanisms to control agency problems between managers and shareholders – Hiệu quả doanh nghiệp và các phương pháp để kiểm soát vấn đề đại diện giữa những nhà quản lý và các cổ đông”. Nghiên cứu khảo sát 400 doanh nghiệp của Mỹ đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả công ty với hội đồng quản trị độc lập sau khi các tác giả thực hiện mô hình hồi quy OLS. Với kết quả này, các tác giả cho rằng lý do có hội đồng quản trị độc lập là do yếu tố chính trị.
Thành viên hội đồng quản trị độc lập có thể là chính trị gia, nhà quản lý môi trường hoặc đại diện người tiêu dùng. Vì những ràng buộc cơ bản của các quy định hoặc vì chính trị mà dẫn đến một vị trí của họ trong hội đồng quản trị công ty. Cũng thực nghiệm tại Mỹ nhưng nghiên cứu của Millstein và MacAvoy (1998) trong bài nghiên cứu“The active Board of Directors and Performance of the Large Publicly Traded Corporation – Hoạt động của hội đồng quản trị và hiệu quả của công ty lớn được giao dịch đại chúng” kết quả lại cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với tỷ lệ hội đồng quản trị độc lập. Nghiên cứu được thực hiện từ năm 1991 đến năm 1995 với 154 doanh nghiệp trong nước được giao dịch đại chúng.
Các tác giả đưa ra giả thuyết thành viên hội đồng quản trị độc lập thì có liên quan đến khả năng gia tăng tỷ suất sinh lợi cho nhà đầu tư và các tác giả kiểm định giả thuyết này thông qua việc xem xét lợi nhuận tiềm năng của nhà đầu tư được xác định là lợi nhuận trừ đi chi phí vốn. Kết quả cho thấy có sự gia tăng đáng kể khả năng sinh lợi của nhà đầu tư ở các doanh nghiệp có thành viên hội đồng quản trị độc lập. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy có mối tương quan cùng chiều và có ý nghĩa thống kê giữa hội đồng quản trị độc lập và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.