CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ Ý ĐỊNH TIẾP TỤC SỬ DỤNG CÔNG TY KIỂM TOÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu trước đây liên quan đến chất lượng kiểm toán và ý định tiếp tục sử dụng công ty kiểm toán 1. Các nghiên cứu trên thế giới Duff (2009) nhận định rằng các vấn đề liên quan đến toàn cầu hóa, thương mại hóa và sự không hài lòng của các bên liên quan đối với CLKiT… đang khiến tâm trí của các KiTV tập trung vào việc phải nâng cao chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp cho khách hàng.
Bên cạnh đó, Morton và Scott (2007) cho rằng nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ có mối tương quan với ý định hoặc quyết định tiếp tục sử dụng dịch vụ từ cùng một nhà cung cấp. Do đó, để tăng khả năng được duy trì việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, CTKiT cần phải quan tâm đến cả hai khía cạnh bao Luận văn thạc sĩ Kinh tế gồm chất lượng dịch vụ cung cấp và cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ đó (Guy, Harris & Williams, 1979). Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm xác định cảm nhận khách hàng về các thuộc tính của CLKiT (Schroeder và cộng sự, 1986; Carcello và cộng sự, 1992; Aldhizer, Miller và Moraglio, 1995; Davis, 1995; Behn và cộng sự, 1997; Chen, Shome và Su, 2001; Kilgore, 2010). Bên cạnh đó, cũng hiện diện nhiều nghiên cứu thực hiện kiểm định cảm nhận của khách hàng về các thuộc tính CLKiT trong mối tương quan với sự thay đổi và sự luân chuyển CTKiT (Healy và Lys, 1986; Williams, 1988; Haskins và Williams, 1990; Johnson và Lys, 1990; Woo và Koh, 2001), hoặc trong mối liên hệ với việc lựa chọn CTKiT (George và Solomon, 1980; Addams và Davis, 1994; Abbott và Parker, 2000; Velury, Reisch và O’Reilly, 2003; Godfrey và Hamilton, 2005).
Và một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc thay đổi CTKiT được đưa ra trong kết luận của nhiều nghiên cứu đó chính là sự không hài lòng về chất lượng của CTKiT đương nhiệm (Burton và Roberts, 1967; Bedingfield và Loeb, 1974; Williams, 1988; Beattie và Fearnley, 1995; Behn và cộng sự, 1997). Hệ quả của kết luận này là nếu 8 khách hàng hài lòng hoặc có cảm nhận tích cực với các thuộc tính CLKiT nhất định của CTKiT đương nhiệm thì họ sẽ duy trì (Pandit, 1999). Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu thực nghiệm trực tiếp kiểm định mối tương quan giữa các thuộc tính CLKiT và quyết định tiếp tục sử dụng CTKiT ngoại trừ các nghiên cứu của Pandit (1999), Morton and Scott (2007) và Butcher và cộng sự (2012) Cụ thể, Pandit (1999) đã kiểm định mối tương quan giữa năm khía cạnh của CLKiT (CTKiT đáp ứng nhu cầu của khách hàng; chuyên môn trong ngành của CTKiT; giám đốc điều hành của CTKiT tham gia kiểm toán; tiến hành kiểm toán tại công ty khách hàng; chất lượng của nhân viên kiểm toán) và ý định tiếp tục sử dụng CTKiT của khách hàng. Năm khía cạnh của CLKiT trong nghiên cứu này được kế thừa từ 12 yếu tố được Carcello và cộng sự (1992) xác định trong danh sách 41 thuộc tính ảnh hưởng đến cảm nhận về CLKiT.
Pandit (1999) tìm thấy rằng hai trong số năm khía cạnh (sự tham gia của giám đốc điều hành CTKiT và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng) có tương quan với ý định tiếp tục sử dụng CTKiT đương nhiệm. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Ngược lại, các khía cạnh liên quan đến chuyên môn trong ngành của CTKiT và việc tiến hành kiểm toán tại công ty khách hàng không có mối liên hệ nào với ý định tiếp tục sử dụng CTKiT của khách hàng. Ngoài ra, do hệ số tải nhân tố thấp nên nghiên cứu này không thực hiện việc kiểm định giả thuyết về mối tương quan giữa ý định tiếp tục sử dụng CTKiT và chất lượng nhân viên kiểm toán. Morton và Scott (2007) đã phát triển một thang đo CLDVKiT gồm 28 nhân tố dựa trên tài liệu khảo sát kiểm toán hành vi, nghiên cứu khám phá và mô hình SERVQUAL của Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985).
Sử dụng mẫu khảo sát gồm 136 giám đốc tài chính của các công ty Úc, Morton và Scott (2007) chỉ tìm thấy mối tương quan thấp giữa cảm nhận CLDVKiT và việc tiếp tục sử dụng CTKiT. Họ lập luận rằng kết quả này là hợp lý là do không có ràng buộc về mặt pháp lý nào liên quan đến nhiệm kỳ của CTKiT và việc thay đổi CTKiT sẽ tốn chi phí cao cho công ty sử dụng dịch vụ. 9 Butcher và cộng sự (2012) đã khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu của Pandit (1999) và Morton & Scott (2007) và thực hiện kiểm định mối tương quan giữa CLDVKiT và việc tiếp tục sử dụng CTKiT của khách hàng trong bối cảnh bắt buộc đấu thầu kiểm toán (compulsory audit tendering) tại tiểu bang New South Wales của Úc. Nghiên cứu này đã khắc phục được những hạn chế mà các nghiên cứu trước đây gặp phải đó chính là nhiệm kỳ kiểm toán không giới hạn và chi phí cao trong việc thay đổi KiTV trong bối cảnh kiểm toán tự nguyện.
Nhóm tác giả sử dụng một bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 48 thuộc tính CLDVKiT được rút ra từ các nghiên cứu về CLDVKiT. Đối tượng khảo sát là các chuyên gia tài chính và kiểm toán nội bộ trên khắp tiểu bang New South Wales. Nghiên cứu phát triển các giả thuyết dựa trên mô hình của Ismail và cộng sự (2006) và mô hình của Duff (2009) để đo lường CLDVKiT. Butcher và cộng sự (2012) đưa ra giả thuyết tồn tại mối liên hệ cùng chiều giữa cảm nhận CLDVKiT và sự tiếp tục sử dụng CTKiT xuất phát từ sự hài lòng về CLKiT.
Các học giả tính toán nhân số đại diện cho từng nhân tố (factor scores) và Luận văn thạc sĩ Kinh tế đưa vào mô hình hồi quy nhị phân như là các biến độc lập để kiểm định các giả thuyết đặt ra. Kết quả hồi quy cho thấy các nhân tố về chuyên môn (expertise) và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng (responsiveness) có mối liên hệ dương và có ý nghĩa thống kê với việc tiếp tục sử dụng CTKiT. Kết luận này thu hút sự chú ý của các CTKiT trên khía cạnh tăng cường cam kết của khách hàng và khả năng CTKiT được giữ lại như một kiểm toán viên đương nhiệm. Cụ thể, nội dung tóm tắt các nghiên cứu chính và chủ yếu liên quan đến đề tài được thể hiện trong bảng dưới đây: Bảng 1.
Tóm tắt nội dung các nghiên cứu trước đây STT Tên tác giả Phương pháp nghiên Kết quả nghiên cứu cứu 1 Mock và Samet Thực hiện khảo sát các Xác định 5 khía cạnh (1982) KiTV tại Mỹ thông qua CLKiT bao gồm: lập kế hoạch, quản trị, quy trình, 10 bảng câu hỏi 32 thang đo các thủ tục kiểm toán, đánh nhằm đánh giá CLKiT giá và thực hiện kiểm toán. 2 Schroeder và cộng Khảo sát các Chủ tịch ủy Các nhân tố thuộc về nhóm sự (1986) ban kiểm toán và KiTV kiểm toán quan trọng hơn trong tại Hoa Kỳ để xác các nhân tố liên quan đến định ảnh hưởng của 15 CTKiT. nhân tố CLKiT. 3 Sutton và Lampe Kiểm định theo nhóm các Mô hình đã sử dụng 19 yếu (1990) KiTV hành nghề tại Hoa tố được phân loại thành ba Kỳ để xây dựng mô hình nhóm: lập kế hoạch, thực CLKiT và tiến hành kiểm hiện công việc và quản lý định mô hình.
4 Carcello và cộng Khảo sát người lập Hầu hết các nhân tố quan sự (1992) BCTC, KiTV và người trọng được xác định là: Luận vănsử thạc dụng BCTC sĩ Kinh tại Hoa tế với khách kinh nghiệm Kỳ để gom nhóm 41 hàng, chuyên môn trong thang đo CLKiT thành 12 ngành, đáp ứng nhu cầu yếu tố CLKiT. của khách hàng và tuân thủ các chuẩn mực chung về các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận. 5 Sutton (1993) Kỹ thuật nhóm danh Xác định 19 yếu tố chất nghĩa về KiTV có kinh lượng có thể được phân nghiệm để phát triển và thành ba nhóm: lập kế kiểm định một bộ các hoạch, kiểm toán tại khách nhân tố CLKiT và thang hàng và quản lý. 6 Beattie và Khảo sát giám đốc tài Xác định năm đặc điểm Fearnley (1995) chính của 210 công ty chính tập trung vào tầm 11 niêm yết ở Vương quốc quan trọng của kỹ năng Anh để xác định tầm (technical skills) chuyên quan trọng của 29 đặc môn và kỹ năng mềm trưng được kỳ vọng ở (people skills) của KiTV.
7 Behn và cộng sự Xác định các nhân tố tác Các nhân tố có ảnh hưởng (1997) động đến sự hài lòng của cùng chiều đến sự hài lòng khách hàng CTKiT thông của khách hàng được nhận qua việc khảo sát các nhà diện bao gồm: khả năng quản lý tài chính tại Mỹ đáp ứng nhu cầu khách thông qua bảng câu hỏi hàng, sự tham gia của 12 nhân tố kế thừa từ người điều hành, sự tương nghiên cứu của Carcello tác hiệu quả và liên tục với Luận vănvà cộng thạc sĩ Kinh sự (1992) tếtoán, tiến hành ủy ban kiểm kiểm toán tại khách hàng, chuyên môn trong ngành và trải nghiệm trước đây của khách hàng. 8 Moizer (1998) Khảo sát các giám đốc Mẫu nghiên cứu cho cả hai công ty vào năm 1987 và năm 1987 và 1996 đều cho 1996 của tám công ty kế thấy sự hài lòng đối với toán lớn và sáu công ty chất lượng dịch vụ được kế toán lớn lớn. Nghiên cung cấp bởi công ty kiểm cứu sử dụng phân tích hồi toán. Giám đốc tài chính quy đa biến với thang đo lớn tuổi thì hài lòng với tổng hợp (composite CTKiT hơn so với các measure) về hiệu suất giám đốc tài chính trẻ tuổi.
kiểm toán được sử dụng 12 như biến phụ thuộc và 11 biến độc lập. 9 Warming- Khảo sát cảm nhận Các đối tượng bên ngoài Rasmussen và CLKiT theo quan điểm doanh nghiệp có khuynh Jensen (1998) của các cổ đông, chuyên hướng cảm nhận các nhân gia tài chính, kiểm toán tố CLKiT như là các nhân viên, giám đốc. tố chuyển tải lòng tin tưởng vào KiTV. thạc sĩ Kinh Tác giả tếvà các dịch vụ sự thấu cảm tiến hành khảo sát quan phi kiểm toán.
quản lý quỹ (đại diện cho nhà đầu tư) về nhân tố nào là nhân tố quan trọng để đạt được CLKiT cao vào năm 2002. 11 Duff (2009) Xem xét sự thay đổi về Kết quả xác định rằng cảm nhận CLKiT tại Anh CLKiT được xác định bởi trong giai đoạn mà thị bốn yếu tố bậc hai bao 13 trường kiểm toán tại đất gồm: năng lực, độc lập, nước này có nhiều sự mối quan hệ và chất lượng thay đổi mạnh mẽ thông dịch vụ.