CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH Bắt nguồn từ nhận thức về xã hội, học thuyết Âm dương, Ngũ hành là sự khái quát về vũ trụ để giải thích những hiện tượng xung quanh của người Á Đông. Nguồn gốc của học thuyết này được đặt trên ba giả thiết khác nhau, gồm được sáng tạo bởi Phục Hy, bởi phái Âm dương gia và từ triết lý dân gian ở khu vực phương Nam. Thời nhà Hán, theo Khổng An Quốc và Lưu Hâm cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo học thuyết Âm dương.
Một số người khác cho rằng đó là công lao của "Âm dương gia", một trường phái triết học thời Chiến quốc của Trung Quốc. Tuy nhiên hai giả thuyết trên đều chưa có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật huyền thoại, không có thực. Về phái Âm dương gia được hình thành vào thế kỷ thứ 3, tức là sau Khổng Tử đến hai thế kỷ, mà vào thời Khổng Tử đã có Kinh Dịch, có âm dương bát quái. Điều này cho thấy phái Âm dương gia chỉ vận dụng âm dương để giải thích địa lý - lịch sử và vận dụng ngũ hành để tạo ra “Ngũ đế đức”.
Hiện nay các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam) Những dẫn chứng cho kết luận này đã lý giải cho nhiều yếu tố khác nhau, như việc vật tổ cặp đôi (Rồng – Tiên) của người Việt cổ, trong khi người Hán chỉ có một là thần Nữ Oa. Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con 9 người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời, "đất sinh, trời dưỡng".
Chính vì thế mà hai cặp "mẹ - cha", "đất -trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến quan niệm âm dương. Về mặt ngôn ngữ học, "âm dương" là phát âm của yin yang trong tiếng Hán, nhưng chính tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữ phương Nam trước đây. Từ yang (dương) trong tiếng Hoa được phiên âm từ yang (= trời, giàng) của các tiếng Đông Nam Á, còn yin (âm) thì có thể thấy là được phiên âm từ yana, ina (= mẹ) của các ngôn ngữ phương Nam. Cặp từ “mẹ - trời” không thuộc cùng một cặp đối lập, bởi vì truyền thống tư duy tổng hợp ghép “mẹ” với “trời” để tổng hợp được cả hai cặp “mẹ - cha” và “đất - trời” là hai quá trình sinh sản quan trọng nhất: sản sinh ra con người và sản sinh ra mùa màng.
Cũng giống như là để tổng hợp được các quan hệ hành động có liên quan như quan hệ ông - cháu và cha - con (=ông con), cô - cháu và mẹ - con (=cô con), xem - diễn và nghe - hát (=xem hát). Trong quá trình phát triển, học thuyết này đã được người Trung Hoa tiếp nhận qua thời kỳ "Nam tiến", là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía Bắc) xuống phía Nam sông Dương Tử. Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu học thuyết Âm dương của các cư dân phương Nam, rồi phát triển, hệ thống hóa học thuyết đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho học thuyết Âm dương đạt đến hoàn thiện và nó đã ảnh hưởng và tác động trở lại đối với cư dân phương Nam. Dần dần ngoài cặp đối lập ban đầu, học thuyết Âm dương đã được cụ thể hóa sang nhiều cặp đối lập khác nhau giải thích cho những khái niệm trừu tượng, như cách đặt nó vào hệ thống để giải nghĩa cho chúng.
Ví dụ như "lạnh -nóng", rồi cặp "lạnh - nóng" lại là cơ sở để suy tiếp như về phương hướng: "phương Bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương Nam" nóng nên thuộc dương; về 10 thời tiết: "mùa đông" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng nên thuộc dương; về thời gian: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối nên thuộc âm, ngày thì sáng nên thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm, ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương. Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của học thuyết Âm dương. Học thuyết Âm dương không phải là học thuyết về các cặp đối lập.
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có các phạm trù đối lập nhau (ngôn ngữ của tất cả các dân tộc đều có từ trái nghĩa). Điều quan trọng của học thuyết Âm dương chính ở bản chất và quan hệ của hai khái niệm âm dương. Đó chính là điều khác biệt học thuyết Âm dương với các học thuyết khác. Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành học thuyết Âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành học thuyết Ngũ hành.
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm "Kinh thư" ở chương "Hồng phạm" qua lời "Cơ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu". Trong Cửu trù "Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên được hình thành bằng những tên của năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo tính chất của các loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu được đối với đời sống con người. Đứng về mặt thiên thời, "Hồng phạm" cho rằng có cái gọi là ngữ "kỷ" (một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số). Về hiện tượng xã hội và hiện tượng tinh thần của con người, "Hồng phạm" đề xuất "ngũ sự" và "ngũ phúc".
Ngũ sự như: một là tướng mạo, hai là lời nói, ba là trông, bốn là nghe, năm là suy nghĩ. Ngũ phúc như: một là thọ, hai là phúc, ba là thông minh, bốn là hiếu đức, năm là khảo trung mệnh. Qua 11 đó nhận thấy "Hồng phạm" dùng ngũ hành để liên hệ hiện tượng tự nhiên với hiện tượng xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có trật tự. Trong tư tưởng đó có chứa đựng nhân tố duy vật, khẳng định ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: thủy, hỏa, kim, mộc, thổ.
"Hồng phạm" đã ảnh hưởng rất lớn đến triết học của thời đại phong kiến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ những lập trường và góc độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tư tưởng phù hợp với mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái nền của vũ trụ luận. Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn.
"Nguyệt lệnh" dùng thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tương sinh) lẫn nhau giữa chúng để thuyết minh cho sự biến hóa của thời tiết bốn mùa. Sự thuyết minh này tuy có tính chất khiên cưỡng nhưng là một quan điểm duy vật. Còn về mặt xã hội thì "Nguyệt lệnh" cũng giống như "Hồng phạm", ý đồ chính trị đã được nâng lên đến mức thể chế hành động của ông vua theo ngũ hành. Người ta lấy sự chặt chẽ của trật tự ngũ hành và quan hệ sinh khắc của nó để làm mực thước cai trị xã hội.
Trâu Diễn là một lãnh tụ quan trọng của các nhà Ngũ hành thời Chiến quốc. Khi đưa thuyết Ngũ hành vào lịch sử ông đã dùng trật tự của ngũ hành để gán ghép cho trật tự của các triều đại vua. Ý tưởng của ông đã thành một nếp khẳng định trong ý thức hệ của giai cấp phong kiến, đến nỗi gây ra cuộc tranh luận về việc chọn tên "hành" cho triều đại nhà Hán (một triều đại mà học thuyết Âm dương, Ngũ hành rất thịnh và được đem ứng dựng vào tất cả các công việc hàng ngày, vào mọi mặt của đời sống xã hội). Lý luận của Trâu Diễn được các danh gia đương thời tiếp thu và quán triệt vào các lĩnh vực của hình thái ý thức xã hội.
12 Học thuyết Ngũ hành của Đổng Trọng Thư một nho sĩ uyên bác đời Hán có nhiều điểm khác với tư tưởng của Cơ Tử vả Trâu Diễn. Đi sâu vào hình thái của quy luật ngũ hành, Đổng Trọng Thư cho rằng: trật tự của ngũ hành bắt đầu từ mộc qua hỏa, thổ, kim, thủy. Khi phân tích quy luật sinh khắc của ngũ hành, ông đã dựa hẳn vào sự diễn biến của khí hậu bốn mùa. Theo ông, sở dĩ có sự vận chuyển bốn mùa là do khí âm, dương biến đổi.
Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì: Trời lấy số 1 mà sinh hành thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành, trời lấy số 5 mà sinh hành thổ, đất lấy số 10 mà làm cho thành [28, tr. Từ khi học thuyết Âm dương, Ngũ hành ra đời, trong tư duy của người Á Đông đã ừng bước thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm thượng đế, quỷ thần đem lại. Đây là cội nguồn của quan điểm duy vật biện chứng trong tư tưởng của người Á Đông.
Vì vậy, việc nghiên cứu học thuyết này giúp chúng ta nhận thức sâu hơn những tư tưởng triết học và những giá trị tích cực của nó tới đời sống con người. Đặc biệt trong quá trình hình thành, phát triển thuyết Âm dương, Ngũ hành đã tác động, ảnh hưởng tới nhiều phương diện kinh tế, chính trị, khoa học và văn hoá trong đó có đời sống văn hoá tinh thần. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH 1. Thuyết Âm dương Âm dương là một khái niệm trừu tượng phản ánh về hai mặt, hai thế lực luôn đối lập nhau, nhưng lại luôn thống nhất với nhau, cùng phải dựa vào 13 nhau để tồn tại và phát triển.