Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi gia cầm giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein động vật cho xã hội. Theo số liệu thống kê chăn nuôi Việt Nam tính đến ngày 01/10/2017, tổng đàn gia cầm cả nước đạt 361 triệu con, trong đó đàn gà chiếm ưu thế với 275 triệu con và sản lượng thịt hơi đạt 437 nghìn tấn. Cùng với các trung tâm chăn nuôi lớn ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa phương có quy mô đàn gia cầm phát triển mạnh. Tuy nhiên, hiệu quả chăn nuôi gà thịt thường xuyên đối mặt với rủi ro dịch bệnh, đặc biệt là bệnh cầu trùng (Coccidiosis) do động vật nguyên sinh thuộc giống Eimeria gây ra. Bệnh có tỷ lệ tử vong dao động từ 30% đến 100%, đồng thời làm giảm 12% - 30% khối lượng cơ thể gà thịt và giảm 15% - 30% sản lượng trứng ở gà sinh sản.
Về mặt sinh lý, ở gà khỏe mạnh, độ pH trong chất chứa ở diều thường giảm từ mức trung tính xuống khoảng 4,5 - 5,8. Việc kiểm soát độ toan trong đường tiêu hóa có vai trò quyết định đến cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột. Việc bổ sung chế phẩm chứa axit hữu cơ kết hợp hệ đệm như Acid pak 4 way (AP4W) vào nước uống có khả năng đưa pH nước xuống dưới mức 4 (ngưỡng tối ưu từ 3 đến 3,5). Môi trường axit này hỗ trợ gia cầm nhanh chóng hạ pH thức ăn trong diều, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh axit lactic hoạt động, ức chế các tác nhân vi khuẩn gây bệnh và nâng cao sức đề kháng tự nhiên đối với bệnh ký sinh trùng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:
- Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng Acid pak 4 way đến tình hình nhiễm bệnh trên gà lông màu nuôi tại Thái Nguyên.
- Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng Acid pak 4 way tới khả năng tăng khối lượng của gà thịt lông màu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà lai F1 thương phẩm giữa gà trống Ri và gà mái Lương Phượng (♂ Ri × ♀ Lương Phượng) nuôi từ 1 đến 84 ngày tuổi; chế phẩm sinh học Acid pak 4 way.
- Phạm vi không gian: Trang trại gia cầm VM (Vân Mỵ), xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Thí nghiệm và các hoạt động khảo sát thực tế được triển khai từ ngày 18/11/2017 đến ngày 18/05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các cơ sở sinh học, dược lý thú y và bệnh lý học gia cầm:
- Cơ sở khoa học của chế phẩm Acid pak 4 way: Chế phẩm gồm 4 nhóm hoạt chất chính:
- Axit hữu cơ: Axit citric và axit sorbic. Nhóm axit này có tác dụng hạ pH dạ dày, tăng kích thước lớp vi nhung mao niêm mạc ruột (với tỷ lệ 1% sorbic và 0,2% citric cho thấy hiệu quả trên gà 14 ngày tuổi), đồng thời tác động trực tiếp lên thành tế bào vi khuẩn.
- Khoáng chất và điện giải: NaCl, KCl, $\text{ZnSO}_4$, $\text{MgSO}_4$. Các khoáng chất này tham gia duy trì áp suất thẩm thấu, ổn định hệ đệm toan kiềm trong máu, điều hòa nhịp tim và hỗ trợ chuyển hóa năng lượng.
- Chiết xuất men vi sinh sấy khô: Gồm Aspergillus niger, Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophilus và Enterococcus faecium. Các chủng vi sinh này sản sinh protease, amylase, duy trì cân bằng hệ vi sinh vật và tiết chất kháng khuẩn tự nhiên (như lactocidin).
- Hệ đệm và phụ gia: Maltodextrin, Silicon dioxide và Natri citrate. Natri citrate kết hợp với axit citric tạo thành hệ đệm giữ pH ổn định và kiểm soát độ chua.
- Cơ sở bệnh học bệnh cầu trùng gà: Mầm bệnh do các loài thuộc giống Eimeria gây ra, chủ yếu lây qua đường tiêu hóa do ăn phải noãn nang (oocyst) có bào tử cảm nhiễm từ phân, chất độn chuồng hoặc côn trùng trung gian (kiến mang trùng 27,27%, ruồi 22,22%, gián 16,67%). Các loài phổ biến gồm E. tenella (ký sinh manh tràng gây ỉa chảy ra máu), E. necatrix, E. acervulina, E. maxima, E. brunetti. Vòng đời sinh học của cầu trùng kéo dài từ 5 đến 7 ngày.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp phân lô so sánh có lặp lại đồng thời 3 lần (n = 3). Tổng đàn gà thí nghiệm gồm 300 con gà F1 (Ri × Lương Phượng), chia thành 2 nhóm: Lô Thí nghiệm (TN) và Lô Đối chứng (ĐC). Mỗi lô gồm 150 con chia thành 3 ô lặp lại (50 con/ô), mật độ nuôi nhốt đồng đều 7 con/$\text{m}^2$, sử dụng cùng loại thức ăn công nghiệp Jafa trong 84 ngày. Lô TN được bổ sung Acid pak 4 way pha vào nước uống với liều 0,5 g/lít liên tục trong 5 ngày đầu tiên và bổ sung định kỳ 1 lần/tuần ở các tuần tiếp theo; Lô ĐC uống nước thông thường không pha chế phẩm.
- Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
- Tỷ lệ nuôi sống (%): Xác định dựa trên tỷ lệ giữa số gà cuối kỳ và số gà đầu kỳ.
- Sinh trưởng tích lũy và tăng khối lượng: Cân khối lượng từng cá thể vào sáng thứ Hai hàng tuần trước khi cho ăn. Tính toán sinh trưởng tuyệt đối ($A$, g/con/ngày) theo tiêu chuẩn TCVN-2-39-77 và sinh trưởng tương đối ($R$, %) theo tiêu chuẩn TCVN-2-40-77.
- Hiệu quả sử dụng thức ăn: Đo lường lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (g/con/ngày), tính toán tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng theo tuần ($\text{F.R}w$) và cộng dồn ($\text{F.R}{cum}$).
- Chỉ số kinh tế kỹ thuật: Tính toán chỉ số sản xuất ($\text{PI} = \frac{A \times \text{Tỷ lệ sống}}{\text{FCR} \times 10}$) và chỉ số kinh tế ($\text{EN} = \frac{\text{PI} \times 1000}{\text{Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng}}$).
- Kiểm tra bệnh cầu trùng: Lấy mẫu phân tươi vào sáng sớm các tuần tuổi 1, 2, 3... Phân tích 360 mẫu phân bằng phương pháp phù nổi Fülleborn sử dụng dung dịch nước muối bão hòa (khoảng 380 g muối/lít nước sôi), soi kính hiển vi quang học độ phóng đại 100 lần để tìm noãn nang. Cường độ nhiễm được phân cấp: (+) nhiễm nhẹ (1 - 3 noãn nang/vi trường), (++) nhiễm trung bình (4 - 6 noãn nang/vi trường), (+++) nhiễm nặng (7 - 9 noãn nang/vi trường), (++++) nhiễm rất nặng (> 9 noãn nang/vi trường).
- Phương pháp xử lý số liệu: Thu thập số liệu trên Microsoft Excel và xử lý thống kê sinh học trên phần mềm MINITAB 16, xác định giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($m_X$), độ lệch chuẩn ($S_X$) và kiểm định sai khác thống kê ($P < 0,05$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả xác định tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của đàn gia cầm tại Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung, đi đôi với áp lực phòng chống dịch bệnh đường tiêu hóa. Phần này làm rõ mục đích đánh giá tác động của Acid pak 4 way lên hai phương diện cốt lõi: tốc độ sinh trưởng tích lũy/tiêu tốn thức ăn và mức độ nhiễm cầu trùng trên gà lai F1 (Ri × Lương Phượng). Đồng thời, tác giả khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dẫn liệu thực nghiệm cho chuyên ngành chăn nuôi thú y và ý nghĩa thực tiễn giúp người nuôi tối ưu hóa chi phí thuốc thú y, gia tăng tỷ lệ sống cho đàn gà.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến cấu tạo bộ máy tiêu hóa của gia cầm, chỉ rõ tốc độ di chuyển của chất tiêu hóa đạt 30 - 39 cm/giờ ở gà non và 40 - 42 cm/giờ ở gà trưởng thành, thức ăn chỉ lưu lại trong ống tiêu hóa khoảng 2 - 4 giờ. Chương này đi sâu phân tích đặc tính sinh học của 8 loài cầu trùng chi Eimeria, cơ chế gây tổn thương niêm mạc manh tràng và ruột non, cũng như mối liên hệ giữa tổn thương do cầu trùng với nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn E. coli bại huyết. Ngoài ra, tổng quan trình bày đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà Ri nội địa, gà Lương Phượng nhập nội và con lai F1 giữa hai giống này. Phần tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trích dẫn số liệu về tác dụng của axit hữu cơ trên lợn con (giảm tỷ lệ tiêu chảy 3% - 7%), trên gà thịt quốc tế (tăng khối lượng 118% so với đối chứng, giảm tỷ lệ chết 1,4%) và trên cá rô phi (giảm tỷ lệ chết khi nhiễm khuẩn từ 33% xuống 11% - 18,4%).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết quy chuẩn thực nghiệm tại trại gia cầm VM (Vân Mỵ), quy mô 300 gà lai F1 phân chia thành 2 lô đối chứng và thí nghiệm với 3 lần lặp lại. Tác giả chuẩn hóa quy trình chăm sóc, chế độ cho ăn tự do với thức ăn Jafa, nước uống, quy trình sát trùng chuồng bằng dung dịch OMNICID (tỷ lệ 1:125), chương trình dùng vắc-xin phòng bệnh Newcastle (IB-ND), Gumboro. Toàn bộ công thức toán học tính toán sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, hệ số chuyển hóa thức ăn FCR, chỉ số PI, chỉ số EN và quy trình kỹ thuật xét nghiệm phù nổi Fülleborn thu thập noãn nang cầu trùng đều được chuẩn hóa chi tiết trong phần này.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương này chia làm hai mảng nội dung chính:
- Kết quả phục vụ sản xuất: Tác giả trực tiếp tham gia chăm sóc 900 gà thịt an toàn 100%; chủng ngừa vắc-xin Newcastle cho 900 lượt con, vắc-xin Gumboro 1200 lượt con, vắc-xin IB-ND 1200 lượt con đạt an toàn tuyệt đối. Trong đợt thực tập, tác giả chẩn đoán và điều trị thành công bệnh Bạch lỵ (Salmonella) ở đàn gà 7 tuần tuổi (khỏi 15/20 con, tỷ lệ 75%) và bệnh hô hấp mãn tính CRD (Mycoplasma gallisepticum) ở đàn gà 3 tuần tuổi bằng kháng sinh tetracycline (khỏi 23/25 con, tỷ lệ 92%).
- Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học: Đánh giá chi tiết ảnh hưởng của AP4W qua các chỉ tiêu sinh trưởng và dịch tễ cầu trùng. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn đến 84 ngày tuổi ở lô TN đạt 98,67%, cao hơn lô ĐC 2,00%. Về sinh trưởng tích lũy, khối lượng xuất bán lúc 84 ngày tuổi của lô TN đạt 1703,94 g/con, vượt lô ĐC (1691,83 g/con) với sai khác có ý nghĩa thống kê ($P = 0,038$). Lô TN có lượng thức ăn thu nhận bình quân hàng ngày thấp hơn lô ĐC (62,99 g so với 65,44 g/con/ngày, $P = 0,014$) và FCR cộng dồn lúc 84 ngày tuổi đạt 3,16 kg thức ăn/kg tăng trọng, thấp hơn so với lô ĐC là 3,29 kg ($P = 0,001$). Về mặt dịch tễ, xét nghiệm 360 mẫu phân ghi nhận tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở lô TN là 36,11%, thấp hơn 11,67% so với lô ĐC (47,78%), đồng thời loại trừ hoàn toàn các ca nhiễm rất nặng (++++) vốn chiếm 6,98% ở lô ĐC.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu thu thập hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ, phản ánh qua bảng tổng hợp so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu giữa hai lô gà ở thời điểm kết thúc thí nghiệm (84 ngày tuổi):
| Chỉ tiêu theo dõi |
Lô Thí nghiệm (AP4W) |
Lô Đối chứng (ĐC) |
Mức chênh lệch / Ý nghĩa thống kê ($P$) |
| Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn (%) |
98,67 |
96,67 |
+2,00% |
| Khối lượng sơ sinh 1 ngày tuổi (g) |
39,13 ± 0,09 |
39,07 ± 0,05 |
$P = 0,363$ (không sai khác) |
| Khối lượng kết thúc 84 ngày tuổi (g) |
1703,94 ± 2,45 |
1691,83 ± 6,41 |
$P = 0,038$ (TN cao hơn 0,71%) |
| Sinh trưởng tuyệt đối tuần 12 (g/con/ngày) |
17,45 ± 0,45 |
16,62 ± 0,21 |
$P = 0,040$ (TN cao hơn) |
| Thu nhận thức ăn bình quân (g/con/ngày) |
62,99 ± 0,56 |
65,44 ± 0,85 |
$P = 0,014$ (TN tiêu thụ ít hơn) |
| Tiêu tốn thức ăn cộng dồn (kg TĂ/kg tăng khối lượng) |
3,16 ± 0,01 |
3,29 ± 0,02 |
$P = 0,001$ (TN giảm tiêu tốn 0,13 kg) |
| Chỉ số sản xuất (PI) lúc 84 ngày tuổi |
61,95 ± 0,67 |
57,81 ± 0,88 |
$P = 0,003$ (TN cao hơn 4,14 điểm) |
| Chỉ số kinh tế (EN) lúc 84 ngày tuổi |
1,96 ± 0,02 |
1,76 ± 0,04 |
$P = 0,002$ (TN cao hơn 0,20 điểm) |
| Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng qua mẫu phân (%) |
36,11 (65/180 mẫu) |
47,78 (86/180 mẫu) |
TN giảm 11,67% so với ĐC |
| Cường độ nhiễm rất nặng (++++, >9 noãn nang/vi trường) |
0,00% (0 mẫu) |
6,98% (6 mẫu) |
TN loại bỏ nhiễm thể rất nặng |
- Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật từ tác giả:
- Bổ sung Acid pak 4 way vào nước uống cho gà thịt lông màu theo phác đồ: nồng độ 0,5 g/lít nước uống liên tục trong 5 ngày đầu đời (giai đoạn úm) và duy trì 1 lần/tuần trong các giai đoạn nuôi tiếp theo đến khi xuất bán.
- Tuân thủ quy trình an toàn sinh học trong trại: để trống chuồng 12 - 15 ngày giữa các lứa, sát trùng bằng OMNICID (1:125), kết hợp quản lý thông thoáng và đệm lót chuồng nhằm triệt tiêu nguồn lây gián tiếp của noãn nang cầu trùng.
- Đóng góp của khóa luận: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm có giá trị về hiệu quả của việc axit hóa nước uống bằng hệ đệm acid citric - natri citrate kết hợp vi sinh trên đối tượng gà lai F1 (Ri × Lương Phượng) nuôi trong điều kiện vụ Đông tại Thái Nguyên; chứng minh vai trò của chế phẩm trong việc cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (giảm 0,13 kg thức ăn/kg tăng khối lượng) và khống chế cường độ gây hại của cầu trùng đường ruột mà không cần lạm dụng thuốc kháng sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ những phạm vi thực tế của đề tài:
- Hạn chế: Thí nghiệm mới được tiến hành tại một địa điểm duy nhất (Trang trại VM, xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên) trên một quy mô đàn thực nghiệm xác định (300 gà khảo sát chia 2 lô); thử nghiệm thực hiện theo phương thức nuôi nhốt kín với mật độ 7 con/$\text{m}^2$ trong điều kiện khí hậu mùa vụ cụ thể, chưa đối chứng với phương thức nuôi bán chăn thả hoặc thả vườn hoàn toàn; nghiên cứu áp dụng một mức liều bổ sung duy nhất (0,5 g/lít), chưa khảo nghiệm các dải liều lượng khác nhau để xác định ngưỡng phản ứng tối ưu; xét nghiệm mẫu phân dừng lại ở việc định lượng noãn nang chung bằng phương pháp Fülleborn, chưa phân lập tỷ lệ nhiễm riêng biệt của từng loài Eimeria.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way ở các mức liều lượng và tần suất bổ sung khác nhau; đánh giá hiệu quả trên các phương thức chăn nuôi bán chăn thả và tại các thời điểm mùa vụ khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa mưa ẩm xuân - hè khi bệnh cầu trùng bùng phát mạnh); thực hiện phân lập chuyên sâu các chủng Eimeria gây bệnh bằng kỹ thuật sinh học phân tử.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực đối với:
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y cơ sở và các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm thương phẩm.
- Các nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Quy trình kỹ thuật pha chế và phác đồ sử dụng chế phẩm axit hữu cơ kết hợp men vi sinh đường ruột trong giai đoạn úm và nuôi thịt.
- Phương pháp luận bố trí thí nghiệm phân lô có lặp lại đánh giá sinh trưởng theo các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-2-39-77, TCVN-2-40-77) và cách thức tính toán các chỉ số kinh tế kỹ thuật tổng hợp ($\text{PI}$, $\text{EN}$, $\text{FCR}$).
- Kỹ thuật xét nghiệm phù nổi Fülleborn dùng nước muối bão hòa để chẩn đoán, đếm và phân cấp cường độ noãn nang cầu trùng trong mẫu phân gia cầm tại thực địa.
- Quy trình thú y lâm sàng phòng trị các bệnh truyền nhiễm thường gặp trên gà lông màu như Bạch lỵ (Salmonella) và CRD (Mycoplasma).
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần hóa sinh và liều dùng của Acid pak 4 way trong khóa luận được quy định như thế nào?
Chế phẩm gồm 4 nhóm thành phần: axit hữu cơ (axit citric, axit sorbic); chất khoáng điện giải (NaCl, KCl, $\text{ZnSO}_4$, $\text{MgSO}_4$); chiết xuất men vi sinh sấy khô (Aspergillus niger, Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophilus, Enterococcus faecium); và hệ đệm cùng chất mang (Natri citrate, Maltodextrin, Silicon dioxide). Trong nghiên cứu, chế phẩm được pha vào nước uống với liều 0,5 g/lít, cho gà uống liên tục trong 5 ngày đầu đời và định kỳ 1 lần/tuần ở các tuần tuổi tiếp theo.
2. Việc bổ sung Acid pak 4 way tác động thế nào đến khối lượng cơ thể và lượng thức ăn thu nhận của gà?
Đến 84 ngày tuổi, gà lô thí nghiệm có khối lượng đạt 1703,94 g/con, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng đạt 1691,83 g/con ($P = 0,038$). Ngược lại, lượng thức ăn thu nhận trung bình hàng ngày ở lô thí nghiệm lại thấp hơn lô đối chứng (62,99 g/con/ngày so với 65,44 g/con/ngày, $P = 0,014$). Điều này phản ánh khả năng hấp thu dưỡng chất của đường ruột gà dùng AP4W hiệu quả hơn, giúp gà tăng trọng tốt hơn dù ăn ít thức ăn hơn.
3. Khả năng chuyển hóa thức ăn (FCR) và các chỉ số kinh tế kỹ thuật được cải thiện ra sao?
Hệ số tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho 1 kg tăng khối lượng (FCR) lúc 84 ngày tuổi ở lô thí nghiệm là 3,16 kg, giảm 0,13 kg so với mức 3,29 kg của lô đối chứng ($P = 0,001$). Nhờ FCR thấp hơn và tỷ lệ nuôi sống đạt 98,67% (so với 96,67% ở đối chứng), chỉ số sản xuất ($\text{PI}$) của lô thí nghiệm đạt 61,95 điểm (đối chứng đạt 57,81 điểm, $P = 0,003$) và chỉ số kinh tế ($\text{EN}$) đạt 1,96 điểm (đối chứng đạt 1,76 điểm, $P = 0,002$).
4. Dữ liệu xét nghiệm mẫu phân thể hiện mức độ kiểm soát bệnh cầu trùng của chế phẩm như thế nào?
Qua kiểm tra 360 mẫu phân bằng phương pháp phù nổi Fülleborn (180 mẫu/lô), tỷ lệ nhiễm noãn nang cầu trùng ở lô thí nghiệm là 36,11% (65 mẫu dương tính), thấp hơn 11,67% so với lô đối chứng có tỷ lệ nhiễm 47,78% (86 mẫu dương tính). Đặc biệt, về cường độ nhiễm, lô thí nghiệm ghi nhận 0,00% mẫu ở mức rất nặng (++++, > 9 noãn nang/vi trường), trong khi lô đối chứng có 6,98% mẫu (6 mẫu) nhiễm ở mức rất nặng này.
5. Trong quá trình theo dõi tại trại VM, tác giả đã xử lý những bệnh truyền nhiễm nào ngoài bệnh cầu trùng?
Tác giả đã phát hiện và điều trị lâm sàng hai bệnh: Bệnh Bạch lỵ (Salmonella) trên đàn gà 7 tuần tuổi với biểu hiện ủ rũ, phân trắng bết đít (điều trị 20 con bằng kháng sinh, khỏi 15 con, đạt tỷ lệ 75%); và bệnh hô hấp mãn tính CRD (Mycoplasma gallisepticum) trên đàn gà 3 tuần tuổi với biểu hiện khò khè, chảy nước mũi (điều trị 25 con bằng kháng sinh tetracycline trong 5 ngày, khỏi 23 con, đạt tỷ lệ 92%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Ngọc Tuyến đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu thực nghiệm về việc sử dụng chế phẩm Acid pak 4 way trên gà thịt lông màu F1 (Ri × Lương Phượng) tại Thái Nguyên. Kết quả khẳng định việc bổ sung chế phẩm với liều 0,5 g/lít nước uống định kỳ giúp nâng tỷ lệ sống lên 98,67%, tăng khối lượng xuất bán đạt 1703,94 g, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn FCR xuống 3,16 và giảm tỷ lệ nhiễm cầu trùng xuống 36,11% (đồng thời triệt tiêu thể nhiễm rất nặng). Toàn bộ dữ liệu được thu thập nghiêm túc qua phương pháp phân lô so sánh và xét nghiệm phù nổi Fülleborn, tạo lập nguồn dẫn liệu khoa học chuẩn xác phục vụ cho nghiên cứu và chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.