So sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh CRD ở gà Ri lai và Mía lai nuôi vụ đông tại Thái Nguyên

Bài viết so sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh CRD ở gà Ri lai và Mía lai nuôi vụ đông tại Thái Nguyên, cung cấp thông tin hữu ích cho người chăn nuôi.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

61
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa trong đào tạo

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài

2.2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà

2.3. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

appendix.1. Tài liệu tiếng Việt

appendix.2. Tài liệu tiếng Anh

Tóm tắt

I. Tỷ lệ nhiễm bệnh CRD ở gà Ri lai và Mía lai

Nghiên cứu so sánh tỷ lệ nhiễm bệnh CRD giữa hai giống gà gà Ri laigà Mía lai nuôi trong vụ đông tại Thái Nguyên cho thấy sự khác biệt đáng kể. Gà Ri lai có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn so với gà Mía lai, điều này có thể liên quan đến khả năng thích nghi với điều kiện thời tiết lạnh và ẩm của vụ đông. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của thời tiết vụ đông đến sức khỏe gia cầm. Tỷ lệ nhiễm bệnh CRDgà Mía lai cao hơn có thể do đặc điểm di truyền và khả năng miễn dịch kém hơn so với gà Ri lai.

1.1. Đặc điểm di truyền và khả năng miễn dịch

Gà Ri lai được đánh giá có khả năng miễn dịch tốt hơn nhờ đặc điểm di truyền từ giống gà bản địa, giúp chúng chống chịu tốt hơn với các bệnh hô hấp như CRD. Ngược lại, gà Mía lai có xu hướng dễ bị nhiễm bệnh do khả năng thích nghi kém với điều kiện thời tiết lạnh và ẩm của vụ đông. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn giống gà phù hợp với điều kiện nuôi trồng cụ thể.

1.2. Ảnh hưởng của thời tiết vụ đông

Thời tiết vụ đông tại Thái Nguyên với nhiệt độ thấp và độ ẩm cao là yếu tố chính làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh CRD ở cả hai giống gà. Tuy nhiên, gà Ri lai thể hiện khả năng chống chịu tốt hơn so với gà Mía lai, điều này khẳng định vai trò của yếu tố di truyền trong việc phòng chống bệnh tật.

II. Cường độ nhiễm bệnh CRD ở gà Ri lai và Mía lai

Cường độ nhiễm bệnh CRD được đánh giá dựa trên mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và tỷ lệ tử vong. Kết quả cho thấy gà Mía laicường độ nhiễm bệnh cao hơn so với gà Ri lai, với các triệu chứng như khó thở, chảy nước mũi và viêm túi khí nghiêm trọng hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết của các biện pháp quản lý bệnh CRDphòng ngừa bệnh CRD hiệu quả hơn đối với gà Mía lai.

2.1. Triệu chứng và bệnh tích

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh CRDgà Mía lai bao gồm khó thở, chảy nước mũi và viêm túi khí, trong khi gà Ri lai có các triệu chứng nhẹ hơn. Bệnh tích mổ khám cho thấy sự tổn thương nghiêm trọng hơn ở gà Mía lai, đặc biệt là ở phổi và túi khí. Điều này khẳng định sự cần thiết của việc theo dõi sát sao và điều trị kịp thời.

2.2. Tỷ lệ tử vong

Tỷ lệ tử vong do bệnh CRDgà Mía lai cao hơn đáng kể so với gà Ri lai, điều này cho thấy sự ảnh hưởng nghiêm trọng của bệnh đến năng suất chăn nuôi. Các biện pháp phòng ngừa bệnh CRD như vệ sinh chuồng trại và sử dụng vắc-xin cần được áp dụng nghiêm ngặt để giảm thiểu thiệt hại.

III. Ảnh hưởng của thời tiết vụ đông đến bệnh CRD

Thời tiết vụ đông tại Thái Nguyên với nhiệt độ thấp và độ ẩm cao là yếu tố chính làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh CRDcường độ nhiễm bệnh ở cả hai giống gà. Điều kiện thời tiết này tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum, nguyên nhân chính gây ra bệnh CRD. Nghiên cứu khuyến nghị các biện pháp quản lý bệnh CRD như cải thiện thông thoáng chuồng trại và kiểm soát độ ẩm để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh.

3.1. Điều kiện thời tiết và sự phát triển của vi khuẩn

Nhiệt độ thấp và độ ẩm cao trong vụ đông tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của Mycoplasma gallisepticum, làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh CRD. Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với gà Mía lai, vốn có khả năng chống chịu kém hơn với điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

3.2. Biện pháp quản lý và phòng ngừa

Các biện pháp quản lý bệnh CRD như cải thiện thông thoáng chuồng trại, kiểm soát độ ẩm và sử dụng vắc-xin được khuyến nghị để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh. Đặc biệt, việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa bệnh CRD cần được thực hiện nghiêm ngặt trong vụ đông để đảm bảo sức khỏe và năng suất của đàn gà.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ so sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh crd ở gà ri lai và mía lai nuôi vụ đông tại thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo, có tới 80% dân cư sống dựa vào nghề nông nghiệp. Nền nông nghiệp nước ta bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Trong đó, chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực rất quan trọng. Nó trở lên phổ biến và phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ đến các trang trại chăn nuôi lớn.

Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi và luôn được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng, cung cấp nguồn protein dồi dào cho con người. Gia cầm chiếm 20 - 25 % tổng sản phẩm thịt trên thế giới, ở các nước phát triển tỷ lệ thịt gia cầm chiếm 30 % hoặc hơn nữa. Mức sản xuất trứng và thịt không ngừng tăng qua các năm. Ngoài ra, còn cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến và ngành trồng trọt…Chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.

Để chăn nuôi gà có năng suất và chất lượng cao, ngoài vấn đề về con giống và thức ăn thì công tác thú y, phòng bệnh cũng rất quan trọng. Theo nghiên cứu gần đây cho thấy cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh cũng xảy ra rất nhiều đã gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng ngành chăn nuôi. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, Gumboro, Tụ huyết trùng, CRD…Những bệnh này có ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng đàn gà. Trong những bệnh trên thì bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà (CRD) xảy ra rất nhiều và thường xuyên, bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi và thường gặp nhiều ở các đàn gà chăn nuôi công nghiệp với mật độ cao.

Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do vi khuẩn Gram âm là Mycoplasma gallisepticum gây ra. Tỷ lệ gà chết do CRD thường từ 5 - 10 %, nhưng điều quan trọng là gà bị viêm đường hô hấp kéo dài, làm cho gà gầy yếu, giảm tỷ lệ tăng khối lượng (10 -20 %), giảm tính đồng đều của đàn, giảm tỷ lệ đẻ trứng (10 - 20 %), gây thiệt hại lớn về kinh tế. Bệnh thường ở dạng ẩn tính tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển (Đào Thị Hảo, 2008 [6]). n 2 Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh CRD gây ra trên đàn gia cầm, tôi thực hiện đề tài:“So sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh CRD trên gà lai (Ri x LP) và (Mía x LP) nuôi vụ đông tại Thái Nguyên” 1.

Mục đích nghiên cứu - Chẩn đoán lâm sàng bệnh CRD do Mycoplasma gallisepticum trên gà thịt lông mầu. - Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh thích hợp. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt lông mầu (Ri x LP, Mía x LP). - Xác định được ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ mắc bệnh CRD trên gà Ri lai và Mía lai - Thông qua việc xác định tỷ lệ nhiễm (CRD) khuyến cáo người chăn nuôi về biện pháp phòng trị bệnh (CRD) trên gà thịt lông mầu.

Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được ảnh hưởng của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) đối với khả năng sản xuất của hai nhóm gà thịt lông mầu. - Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD qua các tuần tuổi của hai nhóm gà thịt lông mầu đang nuôi phổ biến ở miền bắc Việt Nam. Ý nghĩa trong đào tạo - Giúp cá nhân em là sinh viên ap dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.

- Rèn luyện bản thân em có tác phong khoa học đúng đắn, sáng tạo. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp.

Hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi + 9 túi khí. - Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành.

Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính.

Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan. Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng.

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực.

Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. n 4 Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.

Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [21]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí.

Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 - 45 lần/ phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/ phút. Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất.

Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170 cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.

Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí và trong máu gà. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông tốt thường có: oxi 20,94 %; CO2 0,03 %; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) 79,93 %. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5 % oxi và 5 - 6,5 % cacbonic. Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD) * Đặc điểm chung: Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra. Mầm bệnh MG là n 5 nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo, 2007 [8]).

CRD là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với gà, nhất là gà được nuôi theo phương thức công nghiệp. Bệnh làm giảm sức đề kháng của gà, giảm chất lượng thịt của đàn gà thịt. Mầm bệnh lây qua trứng làm giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp nở tăng, làm giảm khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn trên đàn gà con. Bệnh thường ở dạng ẩn tính.

Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ của gà đến 30%, giảm tỷ lệ ấp nở 14 % và giảm tăng khối lượng đến 16 % (Phạm Văn Đông (2002) [5]). Chu Minh Khôi (2001) [27] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp. CRD có thể ghép theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (Stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

So sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh CRD ở gà Ri lai và Mía lai nuôi vụ đông tại Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về tình hình nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên hai giống gà phổ biến tại Thái Nguyên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về sự khác biệt trong tỷ lệ và mức độ nhiễm bệnh giữa gà Ri lai và gà Mía lai, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng như điều kiện thời tiết, chế độ chăm sóc và phương pháp phòng trị. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các hộ chăn nuôi và nhà nghiên cứu trong việc cải thiện hiệu quả nuôi dưỡng và phòng bệnh.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên gà thịt lông màu nuôi bán chăn thả tại xã quyết thắng thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị, nghiên cứu này tập trung vào tác động của mùa vụ lên tỷ lệ nhiễm bệnh CRD. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng và điều trị bệnh cho gà hồ lai tại cơ sở kinh doanh thuốc thú y khương huệ phường chùa hang thành phố thái nguyên cung cấp thêm thông tin về quy trình chăm sóc và phòng bệnh hiệu quả. Cuối cùng, Luận văn tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại chăn nuôi gà thịt khương thị duyên xã cao ngạn thành phố thái nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mô hình chăn nuôi gà thịt tại địa phương.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến chăn nuôi và phòng trị bệnh trên gia cầm, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.