Đặt vấn đề Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo, có tới 80% dân cư sống dựa vào nghề nông nghiệp. Nền nông nghiệp nước ta bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Trong đó, chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực rất quan trọng. Nó trở lên phổ biến và phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ đến các trang trại chăn nuôi lớn.
Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi và luôn được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về thịt và trứng, cung cấp nguồn protein dồi dào cho con người. Gia cầm chiếm 20 - 25 % tổng sản phẩm thịt trên thế giới, ở các nước phát triển tỷ lệ thịt gia cầm chiếm 30 % hoặc hơn nữa. Mức sản xuất trứng và thịt không ngừng tăng qua các năm. Ngoài ra, còn cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến và ngành trồng trọt…Chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.
Để chăn nuôi gà có năng suất và chất lượng cao, ngoài vấn đề về con giống và thức ăn thì công tác thú y, phòng bệnh cũng rất quan trọng. Theo nghiên cứu gần đây cho thấy cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi gia cầm thì dịch bệnh cũng xảy ra rất nhiều đã gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng ngành chăn nuôi. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, Gumboro, Tụ huyết trùng, CRD…Những bệnh này có ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng đàn gà. Trong những bệnh trên thì bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà (CRD) xảy ra rất nhiều và thường xuyên, bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi và thường gặp nhiều ở các đàn gà chăn nuôi công nghiệp với mật độ cao.
Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do vi khuẩn Gram âm là Mycoplasma gallisepticum gây ra. Tỷ lệ gà chết do CRD thường từ 5 - 10 %, nhưng điều quan trọng là gà bị viêm đường hô hấp kéo dài, làm cho gà gầy yếu, giảm tỷ lệ tăng khối lượng (10 -20 %), giảm tính đồng đều của đàn, giảm tỷ lệ đẻ trứng (10 - 20 %), gây thiệt hại lớn về kinh tế. Bệnh thường ở dạng ẩn tính tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển (Đào Thị Hảo, 2008 [6]). n 2 Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh CRD gây ra trên đàn gia cầm, tôi thực hiện đề tài:“So sánh tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh CRD trên gà lai (Ri x LP) và (Mía x LP) nuôi vụ đông tại Thái Nguyên” 1.
Mục đích nghiên cứu - Chẩn đoán lâm sàng bệnh CRD do Mycoplasma gallisepticum trên gà thịt lông mầu. - Đề ra được biện pháp phòng trị bệnh thích hợp. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt lông mầu (Ri x LP, Mía x LP). - Xác định được ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ mắc bệnh CRD trên gà Ri lai và Mía lai - Thông qua việc xác định tỷ lệ nhiễm (CRD) khuyến cáo người chăn nuôi về biện pháp phòng trị bệnh (CRD) trên gà thịt lông mầu.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được ảnh hưởng của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) đối với khả năng sản xuất của hai nhóm gà thịt lông mầu. - Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD qua các tuần tuổi của hai nhóm gà thịt lông mầu đang nuôi phổ biến ở miền bắc Việt Nam. Ý nghĩa trong đào tạo - Giúp cá nhân em là sinh viên ap dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.
- Rèn luyện bản thân em có tác phong khoa học đúng đắn, sáng tạo. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà Gà có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp.
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi + 9 túi khí. - Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành.
Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gà có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi khí hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính.
Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan. Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi, và kéo dài tới xương sườn cuối cùng.
Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo thêm các bọc, tỏa vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực.
Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. n 4 Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gà thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.
Gà hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [21]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí.
Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 - 45 lần/ phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/ phút. Dung tích thở của phổi gà được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất.
Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170 cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.
Trao đổi khí giữa không khí và máu gà bằng phương thức khuếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí và trong máu gà. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông tốt thường có: oxi 20,94 %; CO2 0,03 %; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) 79,93 %. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5 % oxi và 5 - 6,5 % cacbonic. Trong chăn nuôi gà, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2, H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD) * Đặc điểm chung: Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra. Mầm bệnh MG là n 5 nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp mãn tính ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo, 2007 [8]).
CRD là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với gà, nhất là gà được nuôi theo phương thức công nghiệp. Bệnh làm giảm sức đề kháng của gà, giảm chất lượng thịt của đàn gà thịt. Mầm bệnh lây qua trứng làm giảm tỷ lệ đẻ, tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp nở tăng, làm giảm khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn trên đàn gà con. Bệnh thường ở dạng ẩn tính.
Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ của gà đến 30%, giảm tỷ lệ ấp nở 14 % và giảm tăng khối lượng đến 16 % (Phạm Văn Đông (2002) [5]). Chu Minh Khôi (2001) [27] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu. Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp. CRD có thể ghép theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (Stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.