Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam giai đoạn 1998 - 2010, đã có 12 công ty tài chính trực thuộc các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước được thành lập. Tính đến thời điểm trước tháng 6/2012, khối đơn vị này sở hữu tổng vốn điều lệ lên tới 20.317 tỷ đồng và tổng tài sản xấp xỉ 170.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 3,5% quy mô tài sản toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Với sứ mệnh ban đầu là trung gian huy động và điều hòa nguồn vốn nội bộ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước, nhiều công ty tài chính đã bộc lộ những khiếm khuyết lớn sau một thời gian vận hành. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ việc các công ty tài chính mở rộng đầu tư trái ngành vào bất động sản, chứng khoán, dẫn đến tình trạng suy giảm năng lực tài chính, nợ xấu gia tăng và nhiều đơn vị bị âm vốn chủ sở hữu nghiêm trọng.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ các nguyên nhân cốt lõi khiến các công ty tài chính thuộc kiểm soát của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động kém hiệu quả; đồng thời giải đáp câu hỏi liệu Nhà nước có nên thoái toàn bộ 100% vốn tại tất cả các công ty tài chính trong giai đoạn hiện nay hay không. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực trạng hoạt động của hệ thống công ty tài chính nhà nước tại Việt Nam xuyên suốt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016. Ý nghĩa chính sách của luận văn thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước, hỗ trợ các cơ quan thẩm quyền tối ưu hóa tỷ lệ thu hồi vốn khi thoái vốn, hướng tới mục tiêu đưa hệ số an toàn vốn của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng đạt chuẩn mực quốc tế và triệt tiêu hoàn toàn rủi ro thất thoát tài sản công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Chi phí ủy quyền - tác nghiệp kết hợp với lý thuyết Thông tin bất cân xứng và Rủi ro đạo đức làm nền tảng phân tích bản chất các sai lệch quản trị. Trong mô hình doanh nghiệp nhà nước, mối quan hệ giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và ban điều hành công ty tài chính thường phát sinh độ trễ thông tin lớn. Sự bất cân xứng thông tin làm nảy sinh chi phí đại diện, khiến người quản lý khu vực công thiếu động lực tối đa hóa hiệu quả hoạt động, dễ dẫn tới xu hướng phân bổ sai lệch dòng vốn và chuyển hướng nguồn lực vào các dự án rủi ro cao để tìm kiếm lợi ích ngắn hạn. Khi xảy ra thua lỗ, tâm lý ỷ lại vào sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước càng làm trầm trọng thêm mức độ tổn thất.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung giám sát an toàn hoạt động ngân hàng theo Hiệp ước Basel, đặc biệt nhấn mạnh Trụ cột III về kỷ luật thị trường và minh bạch hóa thông tin báo cáo tài chính. Các khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Công ty tài chính tổng hợp, Công ty tài chính chuyên ngành, Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Đầu tư ngoài ngành và Sở hữu chéo giữa tổ chức tín dụng với tập đoàn kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích tình huống điển hình dựa trên hệ thống văn bản pháp quy từ năm 1990 đến năm 2016. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 16 công ty tài chính hoạt động tại Việt Nam tính đến ngày 31/12/2016, trong đó gồm 9 công ty tài chính tổng hợp và 7 công ty tài chính chuyên ngành tiêu dùng. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích, đi sâu vào 5 trường hợp công ty tài chính nhà nước chưa hoàn tất thoái vốn cùng các thương vụ tái cơ cấu thông qua mua bán và sáp nhập tiêu biểu.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tình huống xuất phát từ tính chất đặc thù của quan hệ sở hữu nhà nước và các mối liên kết phi thị trường, vốn không thể đo lường trọn vẹn bằng các mô hình lượng hóa thuần túy. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập minh bạch từ báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước, dữ liệu từ các công ty chứng khoán, kết luận của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình trạng đầu tư trái ngành tràn lan và vi phạm giới hạn an toàn tín dụng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thua lỗ nặng nề. Điển hình tại Công ty Tài chính Cao su, tỷ lệ nợ xấu lên tới 83%, tương đương 1.625 tỷ đồng trên tổng dư nợ 1.900 tỷ đồng, cùng khoản tiền gửi khó đòi 599,5 tỷ đồng tại Công ty Cho thuê tài chính II. Tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí, tổng vốn đầu tư dài hạn và ủy thác ngoài ngành lên đến 3.772 tỷ đồng vào cuối năm 2009, đồng thời vi phạm quy định khi sở hữu trên 20% vốn tại 14 công ty con và công ty liên kết, vượt xa tỷ lệ tối đa 11% theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN.

Thứ hai, nhiều đơn vị rơi vào trạng thái mất vốn hoàn toàn và âm vốn chủ sở hữu hàng nghìn tỷ đồng. Công ty Tài chính Tàu thủy ghi nhận mức âm vốn chủ sở hữu từ 4.399 tỷ đồng năm 2013 tăng vọt lên hơn 6.500 tỷ đồng vào năm 2016. Tương tự, Công ty Tài chính Cổ phần Handico từ mức vốn chủ sở hữu dương 427 tỷ đồng năm 2013 đã rơi xuống mức âm 858 tỷ đồng vào năm 2016 do các khoản lỗ đầu tư chứng khoán lên tới 736 tỷ đồng năm 2014.

Thứ ba, các thương vụ mua bán và sáp nhập với ngân hàng thương mại cổ phần đã mang lại chuyển biến tích cực vượt bậc. Trường hợp Công ty Tài chính Than - Khoáng sản được VPBank mua lại và chuyển đổi thành VPBFC năm 2014 ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục: sau 2 năm, lợi nhuận sau thuế tăng 20 lần đạt 72,2 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu tăng gấp 4 lần và quy mô tổng tài sản tăng hơn 6 lần.

Thứ tư, có sự phân hóa hiệu quả rõ rệt giữa các đơn vị. Công ty Tài chính Cổ phần Điện Lực duy trì đà tăng trưởng ổn định với tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ tăng từ 3,74% năm 2013 lên 6,62% năm 2016, đạt lợi nhuận sau thuế 93,5 tỷ đồng trên quy mô tài sản 18.507 tỷ đồng. Công ty Tài chính Cổ phần Xi măng cũng đạt tỷ suất lợi nhuận 5,67% năm 2015 trước khi giảm xuống 0,62% năm 2016 do phải trích lập dự phòng rủi ro 39 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên khẳng định việc các công ty tài chính sa sút không hoàn toàn xuất phát từ bản chất mô hình định chế tài chính doanh nghiệp, mà bắt nguồn sâu xa từ cơ chế ủy quyền lỏng lẻo và sự thiếu vắng kỷ luật thị trường. So sánh với quốc tế, tại Hoa Kỳ, các định chế như GE Capital hay Ally Financial của General Motors vận hành chủ yếu theo mô hình tài chính bán hàng nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cốt lõi. Tại Hàn Quốc, các tập đoàn đa ngành như Samsung hay Hyundai phát triển các công ty tài chính chuyên biệt để dẫn dắt thị trường thẻ và tài trợ tiêu dùng. Ngược lại, mô hình công ty tài chính nhà nước tại Việt Nam trước đây lại bị biến tướng thành công cụ huy động vốn phục vụ các dự án đa ngành rủi ro cao.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải trình bày thông qua biểu đồ so sánh xu hướng biến động vốn chủ sở hữu giữa hai nhóm: nhóm suy giảm nghiêm trọng dẫn tới mất khả năng thanh toán và nhóm duy trì tăng trưởng dương ổn định. Bên cạnh đó, bảng phân tích đối chiếu các chỉ tiêu tài chính trước và sau tái cấu trúc mua bán sáp nhập sẽ làm nổi bật vai trò quyết định của năng lực quản trị tư nhân trong việc hồi sinh các tổ chức tín dụng yếu kém. Sự thiếu minh bạch cũng là vấn đề đáng báo động khi năm 2015 chỉ có 5/16 công ty công bố báo cáo tài chính kiểm toán, và đến năm 2016 con số này giảm xuống chỉ còn 3/16 đơn vị.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện lộ trình thoái vốn nhà nước linh hoạt và có chọn lọc thay vì áp dụng mệnh lệnh hành chính thoái toàn bộ 100% vốn đồng loạt. Đối với những đơn vị đang hoạt động ổn định và giữ vai trò huyết mạch trong thu xếp vốn chuyên ngành như Công ty Tài chính Cổ phần Điện Lực và Công ty Tài chính Cổ phần Xi măng, cơ quan đại diện chủ sở hữu nên giữ lại tỷ lệ vốn không chi phối ở mức khoảng 15% vốn điều lệ theo Luật các Tổ chức tín dụng. Giải pháp này giúp các tập đoàn chủ động dòng vốn đầu tư hạ tầng, đồng thời ngăn chặn nguy cơ bị đối tác ép giá tài sản nhà nước trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, đẩy mạnh cổ phần hóa và chuyển nhượng vốn cho các nhà đầu tư chiến lược là các ngân hàng thương mại, định chế tài chính uy tín trong và ngoài nước. Mục tiêu nhằm tái cấu trúc toàn diện hệ thống quản trị rủi ro, chuyển đổi mô hình sang tài chính tiêu dùng chuyên nghiệp, hướng tới nâng hệ số an toàn vốn đạt tối thiểu 9% theo chuẩn mực quốc tế. Thời hạn triển khai từ 12 đến 24 tháng dưới sự điều phối của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Thứ ba, áp dụng nghiêm ngặt nguyên tắc thị trường trong xử lý nợ và cơ cấu tổ chức theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội. Kiên quyết tiến hành thủ tục phá sản hoặc giải thể dứt điểm đối với các công ty tài chính âm vốn kéo dài và mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như Công ty Tài chính Tàu thủy và Handico trước năm 2020. Tuyệt đối không sử dụng ngân sách nhà nước để bù đắp các khoản nợ xấu hoặc bao cấp thua lỗ cho doanh nghiệp.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn tài chính. Ngân hàng Nhà nước cần ban hành chế tài xử phạt nghiêm minh, bắt buộc 100% công ty tài chính phải công khai báo cáo tài chính đã kiểm toán trong thời hạn từ 90 đến 120 ngày. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế cho phép các công ty tài chính lành mạnh được nhận tiền gửi từ cá nhân với kỳ hạn từ 1 năm trở lên nhằm mở rộng kênh huy động vốn dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh từ năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách, bao gồm Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để hoàn thiện khung khổ pháp lý về giám sát sở hữu chéo, định hình tiêu chí an toàn tài chính và xây dựng phương án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiệu quả.

Nhóm thứ hai là Hội đồng thành viên, Ban điều hành các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. Nghiên cứu giúp các nhà quản trị nhận diện rõ ranh giới giữa quản lý vốn nội bộ với rủi ro đầu tư ngoài ngành, từ đó xác định tỷ lệ sở hữu hợp lý tại các định chế tài chính trực thuộc nhằm tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn.

Nhóm thứ ba là các ngân hàng thương mại và nhà đầu tư tổ chức tài chính. Báo cáo cung cấp bức tranh chi tiết về thực trạng tài chính của khối công ty tài chính, hỗ trợ quá trình thẩm định rủi ro, định giá tài sản và tìm kiếm cơ hội thâu tóm, sáp nhập để nhanh chóng mở rộng thị phần tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển và Chính sách công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về việc ứng dụng lý thuyết đại diện và thông tin bất cân xứng để giải thích các vấn đề kinh tế thực tiễn tại các quốc gia đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân căn bản nào khiến phần lớn công ty tài chính nhà nước trước đây rơi vào thua lỗ nghiêm trọng? Nguyên nhân chủ yếu do đầu tư ngoài ngành dàn trải vào chứng khoán, bất động sản trong bối cảnh năng lực quản trị hạn chế. Ví dụ, Công ty Tài chính Cao su để nợ xấu lên tới 83% (tương đương 1.625 tỷ đồng), trong khi Handico lỗ chứng khoán 736 tỷ đồng năm 2014 khiến vốn chủ sở hữu âm 858 tỷ đồng vào năm 2016.

Lý thuyết Chi phí ủy quyền - tác nghiệp giải thích hiện tượng sai phạm tại các công ty tài chính này ra sao? Sự bất cân xứng thông tin giữa cơ quan quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp tạo ra rủi ro đạo đức lớn. Lãnh đạo công ty tài chính ỷ lại vào sự bảo lãnh của Nhà nước để giải ngân vốn dễ dãi cho các dự án nội bộ rủi ro cao, điển hình như việc PVFC tồn đọng 2.700 tỷ đồng nợ khoanh từ Vinashin và Vinalines.

Tái cơ cấu thông qua mua bán và sáp nhập với ngân hàng thương mại mang lại những lợi ích gì? Hình thức này giúp chuyển giao nguồn lực quản trị chuyên nghiệp, nâng cao tính minh bạch và xử lý nợ xấu tồn đọng. Minh chứng là thương vụ VPBank mua lại Công ty Tài chính Than - Khoáng sản đã giúp công ty mới đạt lợi nhuận sau thuế hơn 72,2 tỷ đồng sau 2 năm và tăng tổng tài sản lên gấp 6 lần.

Tại sao luận văn kiến nghị Nhà nước không nên thoái sạch 100% vốn tại tất cả công ty tài chính? Các công ty như Điện Lực đạt lợi nhuận sau thuế 93,5 tỷ đồng năm 2016 hay Xi măng vẫn đóng vai trò là đầu mối thu xếp vốn chuyên ngành đắc lực. Việc giữ lại khoảng 15% vốn giúp duy trì sự chủ động về vốn cho ngành, đồng thời tránh thất thoát tài sản do bị ép giá khi bán gấp.

Phương án xử lý phù hợp nhất đối với các công ty tài chính bị âm vốn chủ sở hữu hàng nghìn tỷ đồng là gì? Cần kiên quyết cho giải thể hoặc phá sản theo nguyên tắc thị trường đối với các đơn vị như Công ty Tài chính Tàu thủy (âm vốn hơn 6.500 tỷ đồng). Điều này đảm bảo tuân thủ đúng tinh thần Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tuyệt đối không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu.

Kết luận

Luận văn đã khái quát toàn diện bức tranh vận hành của các công ty tài chính nhà nước tại Việt Nam qua 5 điểm cốt lõi sau:

  • Khẳng định mô hình công ty tài chính trực thuộc tập đoàn kinh tế từng đóng góp tích cực vào việc điều hòa vốn nội bộ nhưng nhanh chóng suy thoái do tình trạng đầu tư trái ngành và sở hữu chéo phức tạp.
  • Chứng minh căn nguyên sâu xa của các tổn thất tài chính bắt nguồn từ mối quan hệ ủy quyền - tác nghiệp lỏng lẻo, thông tin bất cân xứng và sự buông lỏng giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Xác thực hiệu quả vượt trội của giải pháp tái cấu trúc thông qua mua bán và sáp nhập với ngân hàng thương mại cổ phần trong việc làm sạch bảng cân đối kế toán và phục hồi năng lực kinh doanh.
  • Đưa ra cơ sở khoa học chứng minh Nhà nước chỉ nên thoái vốn có chọn lọc, giữ lại tỷ lệ cổ phần không chi phối khoảng 15% tại các đơn vị kinh doanh hiệu quả thay vì thoái vốn toàn bộ một cách cơ học.
  • Đề xuất khung giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kỷ luật thị trường, hoàn thiện thể chế an toàn vốn và minh bạch hóa thông tin báo cáo tài chính theo chuẩn Basel.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp cơ sở hoạch định chính sách sắc bén cho tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hoàn thiện khung thể chế thoái vốn và xử lý dứt điểm các đơn vị yếu kém. Độc giả quan tâm đến các giải pháp tái cơ cấu tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thể nghiên cứu chi tiết toàn văn đề tài để nắm bắt trọn vẹn hệ thống dữ liệu thực chứng và các khuyến nghị chính sách chuyên sâu.