mở đầu cho một kỷ nguyên mới mẻ về hát Ví (nhất là hát phường vải). Hát vừa cho vui, giải tỏa nỗi lòng, vừa là cơ hội để các nhà nho tri thức trổ tài, khoe sức nên những câu hát thường được gọt đẽo, trở nên sâu sắc khiến người ít học và kém tài đối đáp cũng nhiều phen gặp khó khăn. Sau cách mạng Tháng Tám, các làn điệu dân ca mang nhiều hơi thở của chính trị, tuyên truyền cách mạng, vắng dần những lời hát giao duyên. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là vào những năm 1960 – 1970, xứ Nghệ lại chứng kiến một giai đoạn đầy sôi động của sinh hoạt hát dân ca gắn với các phong trào văn hóa – văn nghệ của quần chúng.
Các câu hát Ví – Giặm được vang lên khi cùng đoàn dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong tiếp viện ra chiến trường. Hát Giặm vốn là thể 18 loại âm nhạc dân gian hết sức phong phú, đặc biệt vào những năm kháng chiến chống Pháp thì trong chống Mỹ càng được phát triển mạnh mẽ gắn với bài dân 13 ca Bình dân học vụ, Đi dân công, Đào mương thủy lợi, Tiếng trống Đông Xuân, Khuyên học chữ quốc ngữ… Từ giai đoạn hình thành là những câu hát giải trí trong lúc lao động của nhân dân đến trở thành những lời ca gắn với sinh hoạt văn hóa - văn nghệ quần chúng, xuất hiện trong các hội thi rồi hình thành các tiểu phẩm diễn xướng, dân ca Ví - Giặm là những thước phim ghi lại giai đoạn lịch sử - xã hội của quê hương, truyền tải được từng hơi thở cuộc sống xuyên suốt những giai đoạn lịch sử, tạo nên những giá trị to lớn mà không phải phương tiện âm nhạc nào cũng có thể làm được. Phân bố không gian văn hóa Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 2. Không gian nguyên bản Trong dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh có những nét bình dị và độc đáo về không gian diễn xướng.
Đã từng là nơi nuôi dưỡng tập quán sinh hoạt của cộng đồng, đồng thời là môi trường nuôi dưỡng ca cổ. Không gian văn hoá nguyên bản còn là cứ liệu để các cấp ngành văn hoá làm cơ sở nhằm khôi phục nét giản dị của nó. Không gian văn hoá của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh gồm có không gian rộng và không gian hẹp. Không gian rộng: Gắn liền với địa bàn cùng tồn tại và phát triển của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.
Đó là không gian địa chính cụ thể diện tích cộng lại của cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Từ giáp tỉnh Thanh Hoá ở khe Nước Lạnh cho đến giáp tỉnh Quảng Bình – đèo Ngang. Ngoài ra có ý muốn chỉ đến hình tượng không gian văn hoá ở đâu có con người xứ Nghệ sinh sống cùng việc yêu thích dân ca xứ Nghệ thì ở nơi đó gọi là không gian văn hoá xứ Nghệ. Với không gian hẹp hay còn gọi là không gian diễn xướng: Gắn với những nơi diễn ra các hoạt động, sinh hoạt của dân ca như những nơi ở đồng ruộng, hay trên sông nước, trên những con đường làng, núi rừng, ở những mái nhà, giếng nước, gốc đa, đình làng… tất cả đều là những thứ thân thuộc của không gian bình dị ở làng quê, đều mang đặc điểm chung của dân ca cả nước.
Đối với Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, hát trên sông nước như là hát Ví đò đưa sông La, sông Lam, hay hát trên những đồng ruộng, ở trên sân nhà với hát phường vải, phường nó, trong mỗi ngôi nhà (hát ru) và trên ở những núi rừng (hát phường củi, phường cấy…) là phổ biến nhất. Những nơi đã nói qua đều là môi trường gắn liền sinh hoạt gia đình và cuộc sống lao động. Bên cạnh đó 14 có không gian gắn với lễ hội nhưng ít được thấy, khác hẳn so với các làn điệu dân ca khác như quan họ Bắc Ninh, hát xoan Phú Thọ… Vì vậy, không gian văn hoá của dân ca xứ Nghệ có sức lan toả vươn xa. Có thể là ở Sài Gòn, Hà Nội, các tỉnh vùng duyên hải, Tây Nguyên hay ở những quốc gia trên thế giới có người Nghệ sinh sống, học tập, làm việc, sáng tạo và hưởng thụ văn hoá dân ca xứ Nghệ.
Như vậy, không gian văn hoá dân ca xứ Nghệ có thể nói là rộng bao la, chưa kể là ở trong tâm thức của những người con xứ Nghệ còn chưa tính được. Qua đó chúng ta có thể thấy thể hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh không phải là chỉ quẩn quanh ở một địa phương nhất định mà nó còn có mặt ở một số nơi khác như tỉnh Quảng Bình hay thậm chí còn vươn xa tới Lâm Đồng, Đà Lạt và một số vùng văn hoá khác. Không gian văn hóa dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ngày nay Không gian sinh hoạt văn hoá của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ngày nay đã không còn như trước, chúng đã bị thay đổi do có sự biến mất của một số làng nghề. Không gian văn hoá của dân ca giờ đây chỉ còn là các câu lạc bộ, các điểm biểu diễn văn hoá du lịch, hay là hội thảo hoặc trường học….
Các cuộc hát Ví, Giặm giao duyên nam nữ được tái hiện lại trên sân khấu với các khung cảnh sinh hoạt trên sông nước, trên đồng ruộng… Vậy là diễn xướng dân gian giờ đây đã được chuyển lên thành hình thức diễn xướng chuyên nghiệp, có đạo diễn cùng hoá trang, ánh sáng, trang phục… tổng hoà tất cả lại thì giá trị nghệ thuật của dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ đã được nâng lên một tầm cao mới. Cuộc sống ngày càng phát triển, môi trường mới, nhịp sống mới buộc dân ca Ví, Giặm phải tìm cách để thích ứng, kể cả việc thay thế không gian văn hoá cũ hay không gian văn hoá mới, để tạo nên những giá trị mới để có thể tồn tại lâu dài về sau. Mặc dù dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh không thể trở về cùng những giá trị nguyên bản, với những cảnh trữ tình như: đồng ruộng, bến nước, gốc đa…, hay những đêm trăng phường đan, phường vải nhưng nói đi cũng phải nói lại, không gian văn hoá mới cũng đã góp phần để môi trường nuôi dưỡng dân ca được tiếp tục, để dân ca có thể duy trì, phát huy trong đời sống xã hội ngày nay. Thêm vào đó, hướng đi chủ yếu ngày nay đó là phát huy giá trị của không gian văn hoá theo hình thức sân khấu hoá 15 (ngoài tính hình thái văn hoá vốn có của dân ca còn cộng thêm vào hình thái nghệ thuật để có thể lên sân khấu).
Các làn điệu Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 2. Làn điệu Ví Hát Ví là một đặc sản trong gia tài văn hóa tinh thần của xứ Nghệ, gắn liền với nghề nghiệp, có đủ các loại Ví như Ví phường vải, Ví phường nón, Ví phường đan, Ví phường củi,. có bao nhiêu nghề nghiệp thủ công thì có bấy nhiêu loại Ví đó. Có rất nhiều cách hiểu về thể loại Ví, có người cho rằng Ví là Ví von, so sánh như: Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen Nếu chỉ hiểu đơn thuần “gọi là hát Ví, có lẽ hát Ví hay dùng lối Ví von để trao đổi tình cảm với nhau” (theo GS.
Đinh Gia Khánh) (Huệ, 2017) thì hát Ví đâu thể trở thành một làn điệu đặc sản của xứ Nghệ, bởi ở đâu thì dân ca Việt Nam đều sử dụng ít hoặc nhiều lối Ví von và so sánh. Theo tiếng địa phương từ “Ví” còn có nghĩa là “với”. Có thể bắt gặp một trường hợp như vậy trong bài Nhớ của Hồng Nguyên: “Độc lập nhớ rẽ viền chơi Ví chắc” (độc lập nhớ rẽ về chơi với nhau). Cũng có ý kiến cho rằng hát Ví hay hát với là hình thức đối đáp qua lại giữa nam và nữ (hát với nhau), cũng có thể ý là người con trai đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát với” vào sân nhà của người con gái; hoặc là những cô gái đang cấy lúa dưới đồng “hát với” qua khu ruộng bên cạnh nơi những chàng trai đang nhổ mạ; hoặc hát giữa núi rừng.
Cũng là hình thức đối đáp giao duyên này nhưng ở một số nơi lại có tên gọi khác như hát trống quân, hát ghẹo, hát đúm… để phù hợp với hoàn cảnh và không gian diễn xướng lúc hát. Dầu có nhiều tên gọi là vậy như chỉ có “hát Ví” được dùng phổ biến ở Nghệ Tĩnh mà không thấy ở địa phương khác, có những đặc điểm như: Khi hát Ví thì người hát không cần tính đến thời gian, đây là điểm khác biệt mang tính đặc trưng khi so với hát quan họ (Bắc Ninh) hay hát ghẹo (Phú Thọ) hoặc hát cửa đình ở một số vùng. Quanh năm xứ Nghệ bao giờ cũng nghe được những làn 16 điệu Ví, không hát phường củi thì nghe hát phường vải, phường đan, phường cấy, Ví đò đưa khi chèo thuyền trên sông,. Ở hát Ví phường vải, phường đan… còn có sự tham gia của tầng lớp tri thức.
Đa số là các nho sĩ bình dân, có sự gắn bó mật thiết với người dân lao động, nhưng cũng có người là con nhà có truyền thống khoa bảng, con nhà dòng dõi. Họ thường đóng vai trò là “thầy bày”, “thầy gà” cho hai bên nam nữ. Các câu hát Ví cũng vì có sự tham gia của tầng lớp tri thức này mà những câu hát có thêm phần điêu luyện, thể hiện được tình cảm phong phú, phức tạp, nhiều màu sắc, được “chải chuốt” hơn với lối chơi chữ và có chất “trạng”: Đã có rêu bởi vì nước đứng Núi bạc đầu bởi tại sương sa Thấy anh em muốn giao ca Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời Thấy anh em muốn trao lời Sợ chòm mây bạc giữa trời vội tan (Dân ca người Việt, 1994) Nếu dựa vào cảm xúc trong câu từ hát ra hay theo tình cảm mà phân loại, hát Ví cũng có đa dạng như Ví thương, Ví giận, Ví ai oán, Ví tình cảm,… hay nói cách khác có bao nhiêu cung bậc cảm xúc là bấy nhiêu thể loại Ví. Nhưng xét ở góc độ tính chất âm nhạc thì chỉ có một làn điệu Ví duy nhất.
Khi những câu hát được cất lên, thính giả có thể cảm nhân nỗi buồn man mác ẩn đằng sau nét dí dỏm, những câu hát tựa như hát để nói ra nỗi lòng của bản thân. Thông qua những lời ca câu hát, người nông dân lao động có thể gửi vào đó tâm sự, tình cảm, lời muốn nói mà họ ấp ủ. Vì vậy mà có thể nói hát Ví là những bản tình ca của người lao động, đã hòa vào máu thịt và trở thành một phần trong sinh hoạt thường ngày của người dân.