CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BÁN LẺ 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ bán lẻ * Khái niệm dịch vụ bán lẻ tại ngân hàng Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó phần đông những người lao động nhỏ lẻ có thể tiếp cận đến dịch vụ ngân hàng, tạo một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có từ gốc Tiếng Anh là Retail banking, hiểu nghĩa đen thông thường là việc người bán cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trực tiếp đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ và không qua trung gian.
Ngân hàng bán lẻ được hiểu là loại hình ngân hàng “ chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ” [6] Theo Từ điển giải nghĩa Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh -Việt, Nhà xuất bản khoa học và kinh tế 2010, cho rằng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. [13] Qua khái niệm trên ta có thể thấy rằng dịch vụ NHBL là một bộ phận cấu thành nên sản phẩm dịch vụ của các NHTM. Dịch vụ này chủ yếu phục vụ cho các đối tượng là cá nhân, DNVVN với các hoạt động như: gửi tiền, vay vốn, mở tài khoản, thanh toán.tương đối đơn giản, nhưng lại đòi hỏi công nghệ, trang thiết bị hiện đại. Các dịch vụ này hứa hẹn sẽ mang lại nguồn 6 thu lớn cho các ngân hàng có định hướng, chiến lược phát triển hợp lý trong giai đoạn hiện nay.
* Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - Đối tượng khách hàng đa dạng Đối tượng chủ yếu mà các dịch vụ NHBL hướng tới là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các DNVVN. Dân số thế giới ngày càng tăng cao, cùng với đó là thu nhập, nhận thức và mức sống của người dân dần được cải thiện theo đà phát triển của kinh tế. Do đó, đây trở thành một thị trường rộng lớn, đa dạng và hết sức tiềm năng. Song, vì số lượng khách hàng lớn, lại thuộc các tầng lớp dân cư khác nhau dẫn đến hành vi tiêu dùng, sự nhạy cảm đối với các loại hình dịch vụ cũng khác nhau.
Điều này đặt ra cho các ngân hàng cần có hiểu biết nhất định về từng nhóm khách hàng và lựa chọn các hình thức tiếp cận cũng như sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng nhóm khách hàng. - Số lượng nhu cầu lớn nhưng quy mô giao dịch lại nhỏ Do đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các DNVVN nên số lượng khách hàng của dịch vụ này là rất lớn dẫn đến số lượng giao dịch là rất nhiều và thường xuyên. Song, mục đích sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân hay hộ gia đình chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu thường nhật như chuyển tiền, thanh toán, tiết kiệm.nên giá trị giao dịch không lớn. Còn đối với các DNVVN do quy mô hoạt động nhỏ nên giá trị các khoản giao dịch cũng ở mức thấp.
Chính đặc điểm này mang lại lợi thế cho dịch vụ NHBL. Sự thường xuyên và ổn định trong các giao dịch bán lẻ góp phần mang lại nguồn thu nhập đáng kể và sự tăng trưởng bền vững cho ngân hàng. Hơn thế nữa, nó góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng do giá trị giao dịch nhỏ lẻ nên rủi ro tiềm ẩn trong đó là không đáng kể. - Phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại Dân số gia tăng cùng với nhận thức và nhu cầu của khách hàng ngày 7 một cao như giao dịch một cách nhanh chóng, thuận tiện an toàn với chi phí thấp.Vì vậy để mở rộng và phát triển dịch vụ NHBL thì cần thiết phải ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ trong hoạt động ngân hàng.
Chính nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện tử, viễn thông, internet mà dịch vụ NHBL mới được cung cấp ngày càng nhiều tới mọi đối tượng khách hàng như hiện nay. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, khách hàng có thể tiếp cận với dịch vụ ngân hàng bất cứ thời điểm nào trong ngày và bất cứ đâu, không bị ngăn cách bởi vị trí địa lý. Bên cạnh đó, ngân hàng có cơ hội để đa dạng hóa, nâng cao tiện ích sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. - Danh mục sản phẩm đa dạng Xuất phát từ đặc điểm đặc trưng của dịch vụ NHBL là đối tượng khách hàng rất đa dạng về độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, địa điểm, cư trú.cho nên muốn phát triển dịch vụ này đòi hỏi ngân hàng phải có một danh mục sản phẩm đa dạng, phong phú, không ngừng cải tiến để có thể đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng.
- Kênh phân phối đa dạng, rộng khắp Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm của ngân hàng đến với khách hàng. Nhờ có kênh phân phối mà sản phẩm dịch vụ của ngân hàng được thực hiện nhanh chóng,đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng, công nghệ hiện đại được ứng dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng làm cho các kênh phân phối của Ngân hàng cũng có sự thay đổi mang tính cách mạng. Hệ thống kênh phân phối của ngân hàng chia làm hai loại: kênh phân phối truyền thống và kênh phân phối hiện đại.
+ Kênh phân phối truyền thống: Ngân hàng thực hiện phân phối sản phẩm dịch vụ của mình qua hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch hoặc ngân hàng đại lý. Mạng lưới chi nhánh là kênh chính thu hút khách hàng mới, 8 mở rộng thị phần của các ngân hàng, tạo ra các cơ hội mua bán chéo sản phẩm. Mạng lưới chi nhánh rộng khắp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng. + Kênh phân phối hiện đại: Khi chi phí để mở rộng mạng lưới ngày càng tăng và không còn là cách duy nhất để tạo kênh cung cấp dịch vụ, các Ngân hàng mở rộng sang các kênh cung cấp dịch vụ từ xa như ATM, POS, ngân hàng điện tử.
Hệ thống máy ATM và máy POS đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút khách hàng, nhất là xu hướng giao dịch không dùng tiền mặt ngày càng gia tăng. Các máy ATM cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch rút tiền, chuyển khoản trong cùng hệ thống mà không phải tới quầy giao dịch của Ngân hàng. Sở hữu một mạng lưới ATM rộng khắp sẽ tạo được thương hiệu và thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng hóa dịch vụ qua POS là một dịch vụ khá mới và hiện đại, ngân hàng ký hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thẻ để lắp đặt máy POS và khách hàng chỉ cần sử dụng thẻ để thanh toán với các hóa đơn mua hàng.
Hệ thống thanh toán thẻ có thể dựa trên cơ sở hạ tầng của mỗi ngân hàng hoặc của một khối ngân hàng liên kết với nhau. Trong cả hai trường hợp, nếu một ngân hàng muốn cung cấp dịch vụ cho khách hàng đều phải tham g ia vào Banknet- hệ thống thanh toán thẻ liên ngân hàng. Kênh điện tử là phương thức cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến khách hàng thông qua con đường điện tử và các kênh truyền thông tương tác. Các kênh ngân hàng điện tử bao gồm internet banking, mobile banking, trung tâm dịch vụ khách hàng Call center.
Kênh phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và sản phẩm dịch vụ tới ngân hàng,góp phần giảm thiểu chi phí hoạt động, nhân lực và quản lý của các ngân hàng. Phân loại các sản phẩm, dịch vụ bán lẻ * Sản phẩm huy động vốn Trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên tài sản nợ có 3 mục chính gồm: vốn huy động, vốn vay và vốn tự có. Trong đó thì vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Nó cũng là tiêu chí để đánh giá uy tín, độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng.
Ngân hàng bán lẻ chủ yếu huy động vốn từ cá nhân duới các hình thức sau: - Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kỳ hạn là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhờ giữ và thanh toán hộ. Khi có tài khoản tiền gửi này, khách hàng có các tiện ích là: Yêu cầu phát hành các phuơng tiện thanh toán nhu séc,thẻ; có thể rút tiền bất cứ lúc nào trong ngày thông qua hệ thống các máy ATM; kiểm tra số du tài khoản; thanh toán nhanh gọn tại các điểm chấp nhận thẻ mà không cần mang theo tiền mặt, do đó đảm bảo độ an toàn cao do khách hàng có thể rút tiền vào các thời điểm không xác định, ngân hàng luôn phải duy trì một luợng tiền mặt nhất định, do đó lãi suất thuờng thấp và ngân hàng sẽ thu phí duy trì tài khoản. Sản phẩm tiền gửi thanh toán của ngân hàng nhằm thu hút nguồn vốn giá rẻ và hơn nữa phục vụ nhu cầu thanh toán, chi trả của dân cu. Về tổng thể các ngân hàng vẫn có thẻ huy động đuợc nguồn vốn khá lớn qua dịch vụ này.
- Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã đuợc coi là loại hình huy động vốn truyền thống của các NHTM từ các khách hàng cá nhân. Đóng vai trò tạo nguồn vốn trung dài hạn chủ yếu, góp phần tăng truởng nguôn vốn, do đó việc phát triển các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm đa dạng đang là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng, ngân hàng nào có chính sách huy động tiền gửi tiết kiệm với lãi suất 10 hợp lý sẽ thu hút được nguồn vốn dôi dào đó, tạo được một cơ cấu nguồn vốn ổn định, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Khách hàng cá nhân có thể căn cứ vào nhu cầu chi tiêu của mình để lựa chọn các kỳ hạn đa dạng như không kỳ hạn, ngắn hạn hay dài hạn.