Chương 1: Khái quát chung về bảo đảm tiền vay tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng bảo đảm tiền vay tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo đảm tiền vay tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 1.
Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, chỉ tiêu đánh giá hoạt động bảo đảm tiền vay 1. Khái niệm về bảo đảm tiền vay Theo nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng thì “bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay” (Điều 2 khoản 1). Như vậy thực chất của bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro của tổ chức tín dụng (TCTD), theo đó TCTD đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Các nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay * Về nguyên tắc: Theo điều 4 nghị định số 178/1999/NĐ-CP của chính phủ ngày 29/12/1999 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là nghị định 178/1999/NĐ - CP) bảo đảm tiền vay thực hiện theo các nguyên tắc: - Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn quyết định cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của nghị định này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của chính phủ, thì 6 tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản vay này được Chính phủ xử lý. - Trường hợp khách hàng vay được TCTD lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, TCTD phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì TCTD có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn. - TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. - Sau khi xử lý tài sản bảo đảm bằng tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc hoặc bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
* Ve đăc trưng : Nói chung bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm. Trên thực tế từ góc độ của người cho vay đảm bảo tiền vay phải được thể hiện ở 3 đặc trưng sau: - Thứ nhất: giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm: bảo đảm tiền vay không chỉ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc giục người đi vay phải trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản. Nhưng nếu giá trị tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ vay. Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi (kể các lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận lãi và các lọai phí không thuộc phạm vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ.
Do 7 đó việc yêu cầu giá trị của bảo đảm phải thích hợp là cần thiết để khách hàng có trách nhiệm hơn trong nghĩa vụ trả nợ. - Thứ hai: tài sản đảm bảo phải có sẵn thị trường tiêu thụ. Mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay. Tài sản có độ thanh khoản cao sẽ mất ít chi phí khi xử lý hơn và có thể thu hồi được vốn nhanh hơn, do đó dễ dàng được ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo.
Ngược lại mức độ thanh khỏan thấp tức tài sản khó bán, khả năng thu hồi vốn thấp sẽ khó được ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo vay vốn. Tài sản có mức độ thanh khoản trung bình có thể được ngân hàng chấp nhận nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý. - Thứ ba: tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sơ pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản. Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: Tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc người bão lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sỏ pháp lý để ngân hàng - chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản khi người đi vay không thanh toán đúng hạn.
Như vậy dựa trên những nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay để tổ chức tín dụng xem xét trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay, đồng thời cũng giúp khách hàng vay vốn biết được những quyền lợi và nghĩa vụ của mình để thực hiện hợp đồng đúng như đã cam kết. Tuy nhiên trong từng hình thức bảo đảm tiền vay khác nhau mà ngân hàng có những quy định riêng phù hợp. Chúng ta sẽ xem xét các hình thức bảo đảm tiền vay cụ thể dưới đây mà các ngân hàng thường sử dụng. Các chỉ tiêu đánh giá về hoạt động bảo đảm tiền vay 1.
Các chỉ tiêu định tính 8 Dựa vào các chỉ tiêu định tính ta có thể phần nào đánh giá khái quát được về hoạt động bảo đảm tiền vay của một Ngân hàng thương mại (NHTM). Có rất nhiều chỉ tiêu định tính phản ánh chất lượng này, và một số chỉ tiêu giúp ta nhận biết rõ nhất về hoạt động bảo đảm tiền vay, bao gồm: Danh mục tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm (TSBĐ) bao gồm: bất động sản (nhà, đất), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải), các giấy tờ có giá khác. Các loại tài sản thuộc sở hữu công, kém, mất phẩm chất hay phi pháp đều bị loại khỏi đảm bảo. Quản trị danh mục tài sản bảo đảm là yêu cầu khách quan trong công tác quản trị ngân hàng thương mại, nó là một mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề.
Cho vay có TSBĐ cùng với quản lý tốt danh mục TSBĐ là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng các khoản vay, hạn chế tổn thất của ngân hàng trong trường hợp các khoản vay quá hạn khách hàng không trả được nợ, buộc phải xử lý tài sản để thu hồi nợ. Ví dụ, nếu ngân hàng nhận TSBĐ là dây chuyền máy móc thiết bị, khi phải phát mại thì tiêu chuẩn công nghệ còn phù hợp hay không so với thị trường sẽ quyết định giá cả của TSBĐ này, nếu lạc hậu thậm trí giá trị chỉ là sắt vụn và phải tốn chi phí thanh lý. Do vậy, việc quản lý, đánh giá phân tích danh mục tài sản bảo đảm nhận làm bảo đảm tiền vay dưới hình thức như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là khâu tác nghiệp hết sức cần thiết. Định giá tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định mức cho vay.
Xác định chính xác giá trị tài sản bảo đảm là yếu tố hết sức quan trọng giúp ngân hàng bảo đảm được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho khách hàng. Tài sản bảo đảm phải thoả mãn được một số yêu cầu cần thiết như: tài sản bảo đảm phải không có tranh chấp, có khả năng mua bán chuyển nhượng.Về nguyên tắc, định giá tài sản bảo đảm phải theo giá trị thị trường, nếu định giá cao hơn giá trị thị trường có thể sẽ dẫn 9 đến khi phát mại tài sản trong trường hợp khách hàng không trả được nợ không thu hồi đủ nợ gốc, lãi và các chi phí khác. Nếu định giá thấp giá trị thị trường sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và làm suy yếu tính cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng. Quản lý và thụ đắc tài sản bảo đảm: Quản lý tài sản bảo đảm và các giấy tờ có giá liên quan được hiểu là quá trình theo dõi, kiểm tra nhằm bảo đảm tài sản và các loại giấy tờ vẫn đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện các sự cố liên quan làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm, các loại giấy tờ có giá so với dự kiến nêu tại hợp đồng bảo đảm.
Cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm chính trong suốt quá trình quản lý tài sản bảo đảm và các loại tài sản liên quan. Quản lý tốt tài sản bảo đảm giúp các ngân hàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tài sản vẫn đang trong tình trạng bình thường, đồng thời ngăn chặn kịp thời các sự cố làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm gây thiệt hại cho ngân hàng. Trường hợp tài sản bảo đảm do bên khách hàng vay, bên thứ ba, nắm giữ, bảo quản hay sử dụng cán bộ tín dụng cần chủ động đề xuất và thực hiện kiểm tra tài sản bảo đảm định kỳ, thu thập các loại giấy tờ khác có liên quan đến tài sản bảo đảm, chứng minh tình trạng hiện tại của tài sản bảo đảm. Trường hợp TSBĐ do chính ngân hàng nắm giữ và bảo quản, cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm tiến hàng thủ tục bàn giao và bảo quản tài sản theo đúng quy định của ngân hàng.
Xử lý tài sản bảo đảm: Khả năng xử lý được tài sản bảo đảm với chi phí thấp, thủ tục nhanh chóng giúp bảo đảm được quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng cũng là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay. Việc xử lý TSBĐ phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, 10 bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan. Các chỉ tiêu định lượng Chỉ tiêu giá trị khoản vay so với giá trị của tài sản bảo đảm Giá trị khoản vay Giá trị cùa tài sản. bảo đăm Giá trị khoản vay là số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay ghi trên hợp đồng tín dụng.