chương 1, tác giả đã nêu ra được vì sao lại chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để nghiên cứu và xác định được mục tiêu, đối tượng, phạm vi cùng phương pháp nghiên cứu để làm cơ sở cho việc tiếp tục các chương sau cũng như quá trình tìm kiếm, thu thập số liệu một cách chính xác. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết về ngân hàng, lợi nhuận, các cở sở lý thuyết được dùng và các bài nghiên cứu thực nghiệm để nhằm làm rõ khoảng trống trong nghiên cứu. Nội dung chương 2 bao gồm: các lý thuyết và cơ sở lý thuyết liên đến lợi nhuận của ngân hàng và các bài nghiên cứu trước đây trong nước và ngoài nước. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại, chằng hạn như theo Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp năm 1941: Ngân hàng thương mại là những cơ sở hay xí nghiệp mà tại đó thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc các hình thức khác và sau đó sẽ sử dụng các nguồn lực đó để phục vụ cho việc chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Theo Điều 20, Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2009: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác” (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại). Đặc điểm của ngân hàng thương mại: - Theo khoản 3, điều 4 luật các tổ chức tính dụng năm 2010 thì hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ gồm: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. - Hoạt động của NHTM có những đặc điểm sau đây: Kinh doanh có điều kiện, đối tượng kinh doanh ngân hàng là tài sản tài chính, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính trung gian, hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu ảnh hưởng lớn của môi trường, hoạt động ngân hàng có rủi ro cao.
6 - Thông qua việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ và đóng vai trò là trung gian tài chính giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận. LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG Lợi nhuận của ngân hàng là thu nhập ròng sau thuế hay còn gọi là lợi nhuận ròng, được định nghĩa bởi Rose (2002). Việc xác định lợi nhuận của ngân hàng có rất nhiều cách nhưng trong nghiên cứu của Mamatzakis and Remoundos (2003) cho thấy rằng các chỉ số tài chính được sử dụng phổ biến nhất. Ngoài ra, thông qua các chỉ số tài chính có thể quan sát được tình hình tài chính của một ngân hàng cũng như định giá được tình hình hoạt động của ngân hàng.
Theo bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Tú (2013), lợi nhuận của NHTM là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý hợp lệ. Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại gồm lợi nhuận hoạt động nghiệp vụ và lợi nhuận các hoạt động khác. Đối với các NHTM thì mục tiêu quan trọng là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là một chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của NHTM và cũng là nguồn tích luỹ quan trọng giúp bổ sung vốn chủ sở hữu để thực hiện việc mở rộng hoạt động kinh doanh.
Theo các nghiên cứu trước đây của Naceur (2003), Peters et al. (2004), Mamatzakis and Remoundos (2003), Staikouras and Wood (2003), Kosmidou et al. (2008), Pasiouras and Kosmidou (2007), Athanasoglou et al. Các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng được chia thành yếu tố bên trong và bên ngoài.
Các yếu tố nội tại tác giả lựa chọn có quy mô của ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng, tỷ lệ cho vay của ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi của ngân hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, tăng trưởng tín dụng kết hợp với các yếu tố vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế và mức độ lạm phát. Đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần, lợi nhuận được xem là một trong những mục tiêu hàng đầu và cũng là điều kiện để một 7 ngân hàng có thể tồn tại và phát triển tiếp tục. Ngoài ra, lợi nhuận còn tác động đến việc thu hút được nguồn huy động trong và ngoài nước vì khi ngân hàng đạt lợi nhuận cao, doanh thu lớn và việc chi trả các chi phí hợp lý sẽ giúp khả năng thanh toán được đảm bảo, từ đó uy tín của ngân hàng cũng tăng cao. Đối với ngân sách của nhà nước thì lợi nhuận của ngân hàng là một nguồn thu quan trọng để có thể giúp việc sản xuất được mở rộng và gia tăng nhu cầu phát triển xã hội.
Nhìn từ khía cạnh của các nhà đầu tư, các cổ đông hay cơ quan quản lý nhà nước thì lợi nhuận là yếu tốt then chốt để xác định giá trị của một ngân hàng, cũng như đánh giá được năng lực quản lý, điều hành của ban lãnh đạo. Việc xác định lợi nhuận của ngân hàng thường được đánh giá dựa vào hai chỉ số ROA và ROE. Theo nghiên cứu của Dietrich và Wanzenried (2011), chỉ số ROA so sánh lợi nhuận thuần và tổng tài sản, cho thấy một đồng tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, khi chỉ số này càng lớn thì chất lượng quản lý tài sản càng hiệu quản. Golin (2011) đã cho rằng ROA là một tỷ số vàng trong việc đánh giá lợi nhuận của ngân hàng.
Bên cạnh đó, ROE cũng là một chỉ số được sử dụng rộng rãi khi nhắc đến lợi nhuận, theo Rose và Hudgin (2010), ROE là chỉ số so sánh giữa lợi nhuận ròng và vốn chủ sở hữu, thể hiện được một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tại ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Effeciency Structure Theory - ES) Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES) đã được viết bởi tác giả Smirlock năm 1985, cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa mức độ tập trung thị trường, sự cạnh tranh và hiệu quả. Khi các ngân hàng hoạt động hiệu quả với lợi thế so sánh trong các sản phẩm của họ có thể đạt được thị phần lớn hơn dẫn đến mức tập trung thị trường cao hơn. Ngoài ra, khi một công ty hoạt động có hiệu quả hơn sẽ làm cho lợi nhuận được tăng cao hơn (Olweny và Shipho, 2011).
Đối với lý thuyết cấu trúc hiệu quả khi tiếp cận sẽ có hai hướng khác nhau tùy theo loại hiệu suất được xem xét. Một là tiếp cận theo hiệu quả X (X – Efficiency), nghĩa là một công ty sẽ đạt được lợi nhuận và thị phần cao hơn khi công ty đó hoạt 8 động có hiệu quả vì họ đã biết cách cắt giảm chi phí sản xuất và chi phí quản lý trong quá trình kinh doanh của mình (Al-Muharrami và Matthews, 2009). Hai là tiếp cận hiệu quả theo quy mô (Scale – Efficiency), tức là mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả công ty sẽ được lý giải dựa trên quy mô. Theo Olweny và Shipho (2011) cho rằng các ngân hàng lớn hơn khi hoạt động sẽ có chi phí thấp hơn vì vậy lợi nhuận cũng sẽ cao hơn so với các ngân hàng khác.
Lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power Theory - MP) Đối với lý thuyết quyền lực thị trường (MP) được tiếp cận theo hai hướng chính gồm lý thuyết Cấu trúc – Thực hiện – Hiệu quả (Structure – Conduct – Performance – SCP) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power – RMP). Lý thuyết SCP chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động được xác định bằng các đặc điểm của cấu trúc thị trường vì cấu trúc thị trường có ảnh hưởng đến hành vi của công ty mà điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả đạt được trên thị trường. Theo nghiên cứu của Brain (1951), đối với những ngành có sự tập trung cao sẽ dễ gây ra những hành vi ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế như giảm sản lượng, hình thành việc giá cả độc quyền. Vì vậy, căn cứ theo những lập luận của lý thuyết SCP thì ngành ngân hàng càng tập trung cao thì sẽ gây ra tình trạng lãi suất cho vay ngày càng cao trong khi lãi suất huy động sẽ thấp dần vì tính cạnh tranh không cao.
Trong khi đó, theo Berger (1995), lý thuyết MP là lý thuyết quyền lực thị trường tương đối và cho rằng đối với các công ty có thị phần lớn kết hợp với sự khác biệt trong sản phẩm thì có thể dùng quyền lực thị trưởng để kiếm lợi nhuận mà không cần cạnh tranh quá nhiều, chẳng hạn như các ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần lớn đã có sẵn lợi thế về thương hiệu và chất lượng sản phẩm nên giá sản phẩm dịch vụ có thể tăng cao hơn so với các ngân hàng khác để kiếm được lợi nhuận cao hơn. Trong ngành ngân hàng, mô hình SCP được thể hiện dưới một mô hình tóm gọn là Herebelow, đề xuất bởi Gilbert (1984): P = f(S, D, C, X) Trong đó: P: hiệu suất, được tính bằng ROA, ROE. S: cấu trúc, sử dụng tổng tiền gửi để tính tỷ lệ phân bổ. 9 D: nhu cầu thị trường, đo lường bằng quy mô thị trường, tổng tài sản hoặc tổng tiền gửi.
C: thực thi, thể hiện qua việc phân bổ các chi phí. X: các nhân tố khác như tổng nợ/tổng tài sản, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản. Thông qua mô hình của lý thuyết này cho thấy lợi nhuận của ngân hàng sẽ chịu sự ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau, cả bên trong và bên ngoài. CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Nghiên cứu trong nước Theo nghiên cứu của Lê Tấn Phước, Bùi Xuân Diễn (2016) với đề tài “Các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lợi tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, số liệu được thu thập từ 20 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2007 – 2012 và sử dụng mô hình ước lượng OLS, FEM và REM để đánh giá sự ảnh hưởng các biến. Kết quả phân tích thấy rằng GDP tác động mạnh nhất và ngược chiều với tỷ lệ lãi cận biện; tỷ lệ nợ, tỷ lệ vốn tác động cùng chiều với tỷ lệ lãi cận biên; trong khi lạm phát không tác động.