chương 1 làm cơ sở để đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng trong giai đoạn 2018 - 2020, từ đó tác giả thấy được ưu và nhược điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng ở BIDV, sau đó phân tích đánh giá và tìm hiểu rõ về nguyên nhân của hạn chế. - Chương 3: Giải pháp phát triển và kiến nghị nhằm phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam. Thông qua các số liệu và hạn chế đã phân tích ở chương 2, tác giả đưa ra định hướng cho việc phát triển cho vay tiêu dùng và giải pháp khắc phục hạn chế trong chương 3. Sau đó, tác giả đưa ra kiến nghị nhằm giải quyết được những khó khăn mà ngân hàng đang gặp phải, giúp BIDV phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng hơn trong tương lai.
1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về NHTM Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại chiếm tỉ trọng lớn nhất về thị phần, quy mô tài sản và tổng số lượng các ngân hàng trong số các ngân hàng khác nhau.
Ngân hàng thương mại có lịch sử hình thành lâu đời, gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa, phát triển thành hệ thống huy động tiền gửi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán. Có rất nhiều định nghĩa về Ngân hàng thương mại: Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo luật ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh về tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo đạo luật ngân hàng Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nghề nghiệp thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Theo luật Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tin tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lời và sử dụng số tiền đó đi cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Như vậy, thông qua một số khái niệm về NHTM, ta có thể hiểu như sau: Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian có chức năng dẫn vốn từ nơi 1 có nguồn vốn nhàn rỗi sang nơi cần nguồn vốn, nhằm tạo điều kiện đầu tư và lợi nhuận. Ngân hàng thương mại thực hiện ba chức năng cơ bản trong nền kinh tế hiện đại: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo phương tiện thanh toán. Chức năng trung gian tín dụng: là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng.
Thông qua lợi nhuận từ chênh lệch của lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, ngân hàng thương mại sẽ có được phần lợi nhuận đó. Đây cũng là cơ sở cho sự phát triển và tồn tại của ngân hàng thương mại. Chức năng trung gian thanh toán: chức năng này ngân hàng sẽ thanh toán thay cho khách hàng, trích tiền từ tài khoản của khách hàng và gửi cho người thụ hưởng. Chức năng này giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi thông qua kênh thanh toán không dùng tiền mặt.
Ngoài ra, đối với nền kinh tế, việc là trung gian thanh toán giúp thúc đẩy nền kinh tế, lưu thông hàng hóa và giảm được khối lượng lớn tiền mặt giúp tiết kiệm được chi phí lưu thông tiền mặt. Chức năng tạo phƣơng tiện thanh toán: với mục đích kiếm lợi nhuận, ngân hàng cung cấp dịch vụ tín dụng và thanh toán để thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Từ chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng huy động vốn, dùng vốn đó để đi vay, và sau đó số tiền đó được đưa vào nền kinh tế như mua hàng hóa. Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM Theo khoản 1 Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng đưa ra định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Cuốn sách “Quản trị Ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose, chương 16 có viết rằng cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng, hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Hoạt động cho vay của ngân 1 hàng liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, cho vay thúc đẩy tăng trưởng của khách hàng, giúp phát triển nên kinh tế. Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu rằng cho vay là một hình thức cấp tín dụng, ngân hàng cho khách hàng vay một khoản tiền với thỏa thuận sẽ hoàn cả gốc lẫn lãi. Cho vay là hoạt động có rủi ro rất cao, vì vậy muốn ngân hàng hoạt động ổn định và vững chắc thì hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả.
Đặc điểm của hoạt động cho vay Cho vay thông thường có ba đặc điểm chính: - Thứ nhất, chủ thể tham gia có hai bên: bên cho vay – người có tài sản chưa dùng sẵn sàng cho người khác mượn, bên vay – là người đang cần dùng tài sản đó cho mục đích cá nhân. - Thứ hai, hợp đồng tín dụng tài sản là hình thức pháp lý của việc cho vay. - Thứ ba, hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả lại tài sản (hoặc số tiền) là hai hành vi căn bản của hoạt động cho vay. - Thứ tư, hoạt động cho vay dựa trên tiêu chí tín nhiệm của người cho vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Vai trò của hoạt động cho vay tại ngân hàng thƣơng mại - Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng: Hoạt động cho vay ở các nước phát triển, hoạt động cho vay chiếm 70% doanh thu của ngân hàng, ở các nước đang phát triển thì hoạt động cho vay chiếm 90% doanh thu. Nhờ có hoạt động cho vay của NHTM, các tổ chức kinh doanh có thể vay để phục vụ việc sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được doanh nghiệp vừa trả cho ngân hàng và vừa gửi thêm tiền vào ngân hàng. Nhờ đó, nguồn vốn ngân hàng sẽ tăng nhanh liên tục. - Hoạt động cho vay giúp điều hòa sự cung – cầu trong nền kinh tế: Ví dụ, khi một doanh nghiệp thiếu vốn, họ cần phải vay vốn tại ngân hàng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có khả năng thu được lợi nhuận cũng như chi trả tiền vốn cho ngân hàng nếu họ bán được hết 1 số sản phẩm họ làm ra. Nói cách khác, họ cần có một lượng người tiêu thụ để mua sản phẩm của họ.Về phía người tiêu dùng, khi họ muốn mua một món hàng ngoài khả năng chi trả của họ, họ thường tích góp sau nhiều tháng để có được đủ số tiền. Đây cũng là nguyên nhân gây trì trệ vòng tuần hoàn và luân chuyển của nguồn vốn của doanh nghiệp. Do đó, ngân hàng sẽ là người cho vay giúp hai bên đều có lợi.
Từ đó ta có thể thấy được, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại hỗ trợ điều hòa sự cung – cầu sản phẩm dịch vụ hàng hóa cho nền kinh tế. Phân loại cho vay 1. Phân loại theo thời gian (thời hạn cho vay) - Cho vay ngắn hạn: là những loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu xoay vốn linh động, nhu cầu chi tiêu cá nhân và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của Chính Phủ.
Đây là loại cho vay thường có ở ngân hàng thương mại. - Cho vay trung hạn: là những khoản vay có thời hạn từ 1 – 3 năm. Khoản vay này thường được dùng để đầu tư cơ sở thiết bị hạ tầng mới, nâng cấp cơ sở kỹ thuật, thiết bị công nghệ hoặc mở rộng sản xuất có khả năng thu hồi vốn nhanh. - Cho vay dài hạn: là những khoản vay trên 5 năm trở lên.
Khoản vay này thường được dùng là nguồn vốn cố định của doanh nghiệp, các lĩnh vực như bất động sản, xây dựng và cho vay cá nhân vào các việc mua nhà ở, xe ô tô, … 1. Phân loại theo mục đích vay - Cho vay sản xuất: là loại cho vay bao gồm nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp. Khoản vay này thường được khách hàng sử dụng vốn để tạo ra sản phẩm hàng hóa. - Cho vay lưu thông: là loại cho vay mà khách hàng vay cho việc kinh doanh dịch vụ, hàng hóa.
Cho vay lưu thông gồm có cho vay kinh doanh dịch vụ và cho vay thương mại (mua – bán hàng hóa nội địa, mua bán xuất nhập khẩu). 1 - Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay mà khách hàng dùng nguồn vốn để thực hiện cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Cho vay tiêu dùng giúp khách hàng có một số tiền để mua hàng hóa dịch vụ trước khi có khả năng chi trả cho món đồ đó. Điều này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng hơn.
Tuy nhiên, khoản vay này thường đem lại rủi ro lớn cho ngân hàng, bởi vì phụ thuộc vào yếu tố thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng. Đối tượng cho vay tiêu dùng thường phục vụ cho nhu cầu mua nhà, xe ô tô, mua laptop, đi du học, … 1. Phân loại theo tài sản đảm bảo - Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng phải cầm cố, thế chấp tài sản hoặc có bên thứ 3 bảo đảm làm bảo lãnh. - Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là khoản cho vay khách hàng không cần phải cầm cố, thế chấp tài sản và không có bên thứ 3 làm bảo lãnh.