đặt vấn đề tác phong, nếp sống mới không chỉ bó hẹp trong giáo dục cán bộ, đảng viên mà gắn chặt hữu cơ với vai trò và sử mệnh của quần chúng, với tam lòng nhân ái, luôn nhìn vào quần chúng. Người phê phán bệnh khai hội tuỳ tiện, thiếu chuẩn bị, thiếu thiết thực, làm mat thì giờ, gây phiên ha cho quan chúng. “Cán bộ khu về tinh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng thì khénh khang như “ông quan”, ông “cán” làm cho một “tua” hai ba giờ đồng hồ. Còn công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó, thì không động đến.
Người dạy cán bộ, đảng viên trong cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, phải “Từ trong quần chúng ra. VỀ sâu trong quan chúng” [38, tr. Người day: bat cứ việc to nhỏ, phải xét rõ và làm cho phù hợp với trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm trong tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Cán bộ, đảng viên phải tích cực sửa chữa bệnh “hữu danh vô thực”.
Đó là cách “làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc chính, không từ dưới làm nên, làm cho có chuyện, làm lay rồi, làm được it suyt ra nhiều”. Theo Người, phong cách làm việc theo nếp sống mới phải được thé hiện qua hành động ý chí, nhất là giá trị xã hội của hành động đó. Hành động phải nham đem lại lợi ích cho cách mạng, cho nhân dân. Điêu quan trong dé có được những phẩm chất tốt đẹp về nếp sống, nếp làm việc như Hồ Chí Minh đã dạy là phải xóa bỏ những định hướng giá trị không đúng đắn, mang nặng tính cá nhân ích kỷ.
Trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiều khuyết điểm. Theo Người, có thể chia các khuyết điểm thành ba loại: khuyết điểm về tư tưởng, khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài Đảng, khuyết điểm về cách nói và cách viết. Người cho đó là ba chứng bệnh rat nguy hiểm nếu không kịp thời sửa chữa, dé lây lan ra thì sẽ vô cùng có hại. Hồ Chi Minh đã phê phán thói ba hoa dưới các dạng thức của nó: dai dòng, rỗng tuếch, cầu kỳ, khô khan, lúng túng, lông bông, lụp chụp, câu thả và sáo cũ.
Đó là biểu hiện của nếp sống cũ kỹ, lạc hậu, không phù hợp với đời sống mới. Người đặt van dé không chi đơn giản về mặt tác phong ma còn quán triệt tư tưởng, quan điểm và ý thức phục vụ nhân dân. Người cho rằng viết dài dòng, rỗng tuếch “không có ích gì cho người xem, chỉ là tốn giấy mực, mat công người xem. Khác nao vải băng bó mụn lở, đã thối lại dai”.
Người lên án bệnh nói và viết dài dòng, rỗng tuếch nhưng không hề phản đối những vấn đề cần diễn đạt dài, như sách lý luận chăng hạn, vì tuy có dài nhưng mà cần, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch. Vấn đề đặt ra là biết cân đối liều lượng, tránh thái độ cực đoan “chống nói dài, viết rỗng, chứ không phải nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt”. Hồ Chí Minh lên án thói “cầu kỳ” không chỉ vì Người có thói quen sống với tác phong khiêm tốn, giản dị, mà xuất phát từ quan điểm phục vụ nhân dân sâu sắc. Người đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Có tinh thần phụ trách đối với dân, nghĩa là vì con người, trước hết là vì con người cụ thê.
Vì dân, coi con người là trên hết, nên trong xây dựng nếp sống mới cho cán bộ, Người đòi hỏi phải có tinh thần phụ trách trước quần chúng trong cả cách nói năng, viết lách cho trong sáng. Người phê phán thái độ coi thường quần chúng, thiếu tôn trọng quần chúng, dùng cả đoạn chứ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dang dac, thi quan chung hiểu sao được. H6 Chí Minh day cán bộ phải có tác phong hỏi quan chúng trong cách ăn nói. Theo Người, Cách nói của quần chúng đầy đủ, rất hoạt bát, thiết thực mà lại rất đơn giản.
Chỉ vì cán bộ chưa học được cách nói đó nên mắc phải bệnh khô khan, lúng túng khó nói, khó viết, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực. Người có quan điểm thực tiễn và khoa học trong việc dùng tiếng nước ngoài, làm thế nào cho ngôn ngữ trong sáng, không lai căng, phản đối thói dùng chữ nước ngoài một cách tùy tiện, chống mượn không phải lối khiến quần chúng không hiểu nổi. Nhưng đồng thời, chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc đề làm cho tiếng ta đầy đủ thêm. Một phần không nhỏ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh luôn đề cao vị trí của con người và vai trò của nhân dân.
Người viết: Chúng ta thường kêu gọi làm làng kiểu mẫu, trại kiểu mẫu, bộ đội kiểu mẫu.khẩu hiệu đó rất đúng. Nhưng đến nay chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội. Muốn lập làng kiểu mẫu.thì trước hết phải đào tạo ra những người kiều mẫu để làm cán bộ cho làng đó, cho đội đó. Lam được một làng, một đội rồi lấy đó làm kiểu mẫu để khuyến khích và cô động nơi khác.
Bác dạy trước tiên phải tạo ra những con người kiều mẫu chính là phải tạo nên những nhân tố mới, điển hình mới để rồi từ đó nhân ra, phát triển lên. Việc xây dựng nếp sống mới cũng như các việc khác đều phải bắt đầu từ dân, vì lợi ích của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân mới có kết quả. Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ, nguyện vọng, của quần chúng, nghiêm khắc phê phán bệnh chủ qua, hẹp hòi, thói ba hoa, xa rời quần chúng của cán bộ, đảng viên. Đó là bài học rất quan trọng khi tiến hành xây dựng nếp sống mới.
Hồ Chí Minh cũng đã chỉ cho chúng ta thấy nội dung của đạo đức cách mạng và cũng là đạo đức của con người mới mà cuộc vận động xây dựng nếp sống mới của chúng ta nhằm hướng tới. Người viết: Nói tóm tắt tính tốt ấy gồm 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liém. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ các “bệnh” thường mắc phải trong công tác. Người hướng dẫn cách sửa chữa những bệnh đó, phân tích tỷ mỹ các bệnh mà mỗi con người dễ mắc phải như: bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, thiếu kỷ luật, óc hẹp hoi, óc địa phương, óc lãnh đạo, bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, cận thị, cá nhân.
Trong đó có nhiều bệnh liên quan tới việc xây dựng nếp sống, nếp làm việc. Khi nói về bệnh hội họp Bác cũng nghiêm khắc phê phán làm việc không đúng giờ: Hẹn khai hội 8h thì 9h, 10h mới đến. Họ không hiểu rang giữ đúng thì giờ là một tính tốt của con người cách mạng, nhất là trong lúc kháng chiến này. Trong tác phẩm, Người đã chỉ ra rất nhiều nhược điểm trong nếp sống cũ lạc hậu mà cho đến nay, qua nhiều cuộc vận động xây dựng nếp sống mới, chúng ta vẫn chưa khắc phục được.
Từ những công việc cụ thé, giản di hàng ngày, Hồ Chủ Tịch đã hướng dẫn cho chúng ta bỏ những thói xấu, tu dưỡng những đức tính tốt. Người đã chỉ rõ cho chúng ta những hình ảnh bang xương bang thịt những cán bộ, đảng viên kiểu mẫu, hình ảnh những con người mới trong xã hội mới. Đó là một bài học rất lớn dé chúng ta noi theo khi xây dựng những điển hình, chuẩn mực trong việc xây dựng nếp sông mới. Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đời song mới là Cần, Kiém, Liêm, Chính.
Đời sống mới bắt đầu từ muôn mặt của đời sống hàng ngày, có liên quan tới mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội. Xây dựng đời sông mới phải bat đâu từ dân, hệt lòng vì dân. Dé xây dựng đời sông mới thì phải đào tạo ra những người kiểu mẫu, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, tạo ra những nhân tố mới dé từ đó nhân ra, phát triển lên.Khái niệm lỗi sống Vào các thập niên 60 — 80 của thế kỷ XX, giới nghiên cứu Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đưa ra hơn 50 định nghĩa tiêu biểu về “lôi sông”. Các định nghĩa này có thê qui vê ba nhóm: Nhóm thứ nhất: định nghĩa lỗi sống bằng cách liệt kê càng nhiều càng tốt tat cả mọi hoàn cảnh có liên quan đến cuộc sống của con người và toàn xã hội.
Lối sống được kiến giải như một phạm trù xã hội học bao hàm cả các kiều kiện sống, các hình thức hoạt động sông của con người, các quan hệ xã hội, sinh hoạt các hình thức thỏa mãn nhu cầu, thế giới quan. Cách định nghĩa này bị nhiều ý kiến phê phán vì sự mở rộng quá mức khái niệm lối sống, làm cho lỗi sống mat đi nội hàm riêng và đặc trưng của nó. Nhóm thứ hai: xem lối sống là phạm trù nói lên các nhu cầu của con người, những cách thức thỏa mãn những nhu cầu đó, nói lên những đặc trưng về chất lượng trong sự phén vinh của con người hoặc cho rằng lối sống là phạm trù chỉ nếp nghĩ và nếp hành vi, nếp sống nội tâm của con người. Cách định nghĩa này sẽ loại trừ những hoạt động sống quan trọng của con người như lao động, hoạt động chính tri - xã hội ra khỏi lối sống.
Nhóm thứ ba: Quan niệm lỗi sống là phạm trù xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ của các hình thức hoạt động sống và những điều kiện nhất định. Ở đây, người ta không chú ý đến vai trò của yếu tố chủ quan trong lối sống. 17-18] Định nghĩa tiêu biểu va phd biến nhất ở Liên Xô (cit) có lẽ là định nghĩa gắn với hoạt động của con người. “Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học” định nghĩa “lối sống xã hội chủ nghĩa” là “những hình thức hoạt động ~~? sống cua con người vốn có của chủ nghĩa xã hội, được qui định bởi điều kiện sống của họ trong phạm vi giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản” [42, tr.
Công trình “Lối sống xã hội chủ nghĩa "do G.Gle-do-man chủ biên định nghĩa: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thong những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiéncua một hình thải kinh tế - xã hội nhất định” [13, tr. 45] Về cơ cấu thực chất nội dung của lỗi sống, các nhà nghiên cứu Liên Xô đã nêu lên một số quan niệm thống nhất.