Nghiên cứu yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải

Nghiên cứu so sánh yếu tố triết luận trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. Phân tích đặc điểm, điểm gặp gỡ và khác biệt trong tư tưởng văn chương của hai nhà văn.

Trường đại học

Trường đại học Hồng Đức

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án
163
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Triết luận trong sáng tác Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải

Tác phẩm văn chương, nếu thiếu đi tư tưởng, dù có được tô vẽ lộng lẫy đến đâu cũng sẽ nhanh chóng tàn phai. Tư tưởng của tác phẩm mang đến khoái cảm trí tuệ và tạo nên sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Tác phẩm có tư tưởng thường không thể thiếu yếu tố triết luận, chạm đến những quy luật cốt lõi của cuộc sống. Yếu tố triết luận nâng tầm tư tưởng cho tác phẩm, góp phần làm cho nhà văn trở thành một nhà tư tưởng. Một nền văn học lớn không thể thiếu những nhà văn với tác phẩm giàu tư tưởngtính triết luận. Yếu tố triết luận hiện diện ở mọi phương diện đời sống văn hóa của con người, vừa thuộc phạm trù nhận thức, vừa thuộc phạm trù phản ánh, là kết quả và cũng là mục đích hướng tới của con người trong quá trình khám phá và chinh phục thế giới. Văn chương, với ưu thế nổi bật là sử dụng công cụ ngôn ngữ, được lựa chọn để bộc lộ nhu cầu triết luận một cách rõ ràng và phong phú nhất. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, sức hấp dẫn trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu là 'chất thơ và chiều sâu triết học'.

1.1. Khái niệm Triết luận và các Thuật ngữ Liên quan

Khái niệm "triết luận" là sự kết hợp của hai từ “triết” và “luận”. “Triết” chỉ sự thông minh, sáng suốt, hiểu rõ sự lý. “Luận” là bàn về vấn đề gì, có phân tích lý lẽ. Hai từ “triết luận” đi với nhau tạo nên nghĩa tổng thể là: luận bàn thông thái, sáng suốt. Cũng có thể hiểu triết luận để chỉ vấn đề vừa có tính tranh luận vừa chứa đựng sự thông thái, sáng suốt. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), triết lý là “Lý luận triết học” hoặc “thuyết lý về những vấn đề nhân sinh xã hội”. Phạm Xuân Nam định nghĩa: Triết lý là những tư tưởng có tính triết học (tức là sự phản ánh đã đạt đến trình độ sâu sắc và khái quát cao) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người; là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội [100; tr.

1.2. Vị trí Cốt yếu của Triết luận trong Tác phẩm Văn chương

Văn chương, với ưu thế nổi bật là sử dụng công cụ ngôn ngữ nên được lựa chọn để bộc lộ nhu cầu triết luận rõ nhất và cũng phong phú nhất. Song, văn chương thiên về phạm trù nghệ thuật, tư duy văn chương chủ yếu là tư duy hình tượng; triết học thiên về phạm trù khoa học, tư duy triết học là tư duy trừu tượng. Văn chương được dẫn dắt bởi tình cảm, cảm xúc; triết học được triển khai bằng lý trí, logic. Mặc dầu vậy, hai “ngành” thuộc hai phạm trù tưởng rất đối lập này lại có những liên hệ, gặp gỡ rất thú vị. Ở thời “văn - sử - triết bất phân” người ta dường như đã đồng nhất hai phạm trù ấy với nhau, “buộc” chúng lẫn vào nhau không có ranh giới.

II. Điểm tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Minh Châu Khải

Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải là những tên tuổi xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Hai tác giả cùng có đóng góp nổi bật ở cả hai thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, trước Đổi mới và khơi nguồn đổi mới, góp phần đưa văn học Việt Nam tiếp cận với văn học thế giới hiện đại. Cùng sinh năm 1930, cả hai thuộc lớp thế hệ nhà văn - chiến sỹ, đều cầm súng trước khi cầm bút, vừa là đồng chí, vừa là đồng nghiệp, cùng say mê sáng tạo dưới một mái nhà chung là Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nguyễn Khải gọi Nguyễn Minh Châu là “người bạn đồng sàng đồng mộng từ thuở tóc còn xanh tới lúc bạc đầu”. Điều thú vị là cả hai cây bút đều cùng yêu mến và kính trọng nhà văn Nam Cao, coi Nam Cao là bậc thầy.

2.1. Tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải - hai cá tính sáng tạo, mỗi người một vẻ, nhưng nếu đặt cạnh nhau, người ta bỗng bất ngờ bởi nét tương đồng, đó là cùng đam mê triết lý, triết luận, đều rất coi trọng phẩm chất tư tưởng trong tác phẩm. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, sức hấp dẫn trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu là 'chất thơ và chiều sâu triết học'. Độc giả, cũng như các nhà nghiên cứu khi tiếp cận tác phẩm của hai nhà văn dường như đều có chung ấn tượng, tác phẩm của Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải rất giàu tính triết lý.

2.2. Tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Khải

Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải - hai cá tính sáng tạo, mỗi người một vẻ, nhưng nếu đặt cạnh nhau, người ta bỗng bất ngờ bởi nét tương đồng, đó là cùng đam mê triết lý, triết luận, đều rất coi trọng phẩm chất tư tưởng trong tác phẩm. Theo Phan Cự Đệ cho rằng: mặt mạnh của ngòi bút Nguyễn Khải là tác phẩm của ông luôn nổi lên những vấn đề khái quát có ý nghĩa triết họcđạo đức nhân sinh. Dù có điểm gặp gỡ, họ vẫn mỗi người một vẻ, chinh phục độc giả bởi cá tính sáng tạo của riêng mình. Có lẽ vì vậy, tác phẩm của Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải luôn được quan tâm, yêu mến của độc giả nói chung, giới nghiên cứu nói riêng.

III. Cách thể hiện yếu tố triết luận trong sáng tác của 2 nhà văn

Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá yếu tố triết lý, triết luận trong tác phẩm của Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải, song, dường như chỉ mới có những tìm hiểu, nghiên cứu độc lập ở từng tác giả hoặc ở một phương diện nào đó của tác phẩm. Một công trình nghiên cứu chuyên sâu kết hợp với góc nhìn so sánh sẽ là hướng tiếp cận mới mẻ và có ý nghĩa khoa học để nhận ra nét riêng độc đáo trong tư duy và cá tính nghệ thuật của mỗi cây bút, đặc biệt sẽ tìm ra sắc vẻ riêng ở phẩm chất triết luận - yếu tố làm nên ấn tượng đặc biệt trong tác phẩm của hai tác giả.

3.1. Quan niệm tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng NMC

Nguyễn Minh Châu Quan niệm “tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng”. Đề tài, chủ đề giàu tính tư tưởng. Đề tài trong tác phẩm chứa đựng tính phổ quát. Tính “nhiều lớp” của mạch truyện. Nhân vật và hình tượng giàu tính biểu tượng. Điểm nhìn trần thuật từ bên trong tạo nên giọng điệu suy tư, đối thoại.

3.2. Quan niệm văn chương là khoa học thể hiện lòng người NK

Nguyễn Khải: Quan niệm “văn chương là khoa học thể hiện lòng người”. Triết luận trong tác phẩm Nguyễn Khải qua phương diện đề tài, chủ đề với tính thời sự, dự báo. Mạch truyện giàu tính chính luận. Mạch truyện giàu tính thông tin thời cuộc. Kết cấu mạch truyện chính luận. Nhân vật bản lĩnh với cái tôi khôn ngoan sắc sảo. Giọng trần thuật theo hướng tranh luận, đối thoại. Ngôn ngữ trần thuật vừa kể - tả vừa nhận xét, bình luận. Dựng nên những màn đối thoại, tranh luận.

3.3. Những gặp gỡ trong bút pháp triết luận

Những điểm gặp gỡ trong bút pháp triết luận của Nguyễn Minh ChâuNguyễn Khải. Gặp gỡ trong quan điểm: đề cao tính tư tưởng của văn chương. Đề tài và chủ đề tác phẩm thường lộ rõ tính “luận đề”. Nhân vật giàu tính biểu tượng. Nhân vật biểu tượng cho những ý tưởng, mục tiêu chính trị - xã hội. Nhân vật biểu tượng cho cái Đẹp - Đạo đức - Nhân cách. Nhân vật đạt đến tầm cổ mẫu (archetype). Trần thuật thường đan xen giữa kể - tả và bình luận.

IV. Phương pháp nghiên cứu triết luận trong sáng tác 2 nhà văn

Để triển khai đề tài, cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp tiểu sử học, phương pháp phân tích văn học, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phân loại. Đề tài cũng sẽ phối hợp vận dụng phương pháp tự sự học, phương pháp nghiên cứu liên ngành, cùng với việc tham khảo thêm các lý thuyết hiện đại, để nghiên cứu và phân tích tác phẩm nhằm làm sáng tỏ hơn độc đáo nghệ thuật của mỗi cây bút.

4.1. Phương pháp Tiểu sử học Tiếp cận Lịch sử

Với đối tượng nghiên cứu là hai tác giả mà tác phẩm của họ chịu sự tác động và chi phối lớn từ hoàn cảnh nên luận án sẽ vận dụng phương pháp tiểu sử học cùng với cách tiếp cận lịch sử để lý giải một số vấn đề. Từ những phân tích cụ thể, sẽ giúp cho những đánh giá, khái quát có cơ sở và thuyết phục.

4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu phong cách hai nhà văn

Bản thân đề tài nghiên cứu đã đặt ra yêu cầu phải vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai cá tính phong cách. Luận án sẽ sử dụng cả hai phương thức so sánh: đồng đại (cùng giai đoạn/ chặng) và so sánh lịch đại (trước với sau) để thấy sự vận động thay đổi ở mỗi cây bút.

18/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1. Khái niệm “triết luận” và một số thuật ngữ liên quan Ở góc độ chiết tự, khái niệm "triết luận" là sự kết hợp của hai từ “triết” và “luận”. Theo Từ điển Hán Việt (Thiều Chửu), “triết” có nghĩa là “sáng suốt, khôn”, "luận" là “bàn bạc, xem xét sự vật, rồi nói cho rõ phải trái” (“công luận”, “dư luận”, “bài luận”). Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2007) giải nghĩa: “triết” là "thông minh, sáng suốt, hiểu rõ sự lý”, “luận” là “bàn về vấn đề gì, có phân tích lý lẽ”, như: luận về văn chương, luận về thời cuộc.

Từ điển Le Petit Robert (ấn bản 2012) cũng giải nghĩa “triết” là “lý trí, hiểu biết”. Như vậy, các nhà làm từ điển gần như đồng thuận về nghĩa của từ “triết” chỉ sự thông thái/ thông minh, sáng suốt và nghĩa của từ “luận” là: bàn bạc, trao đổi, tranh luận. Hai từ triết luận đi với nhau tạo nên nghĩa tổng thể là: luận bàn thông thái, sáng suốt. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu “triết luận” để chỉ vấn đề vừa có tính tranh luận vừa chứa đựng sự thông thái, sáng suốt.

Theo quan điểm của luận án, khái niệm “triết luận” bao chứa cả hai nghĩa này: vừa chỉ cách diễn đạt có tính tranh luận và thông thái; vừa chỉ nội dung vấn đề có tính tranh luận và thông thái. Luận án sẽ căn cứ vào cả hai nghĩa này để xây dựng luận điểm nghiên cứu. Khái niệm “triết học”(Philosophy): Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa ngắn gọn: Triết học là “Khoa học nghiên cứu về những quy luật chung nhất của của thế giới và sự nhận thức thế giới” [122; tr. Từ điển Tiếng Việt (nhóm biên soạn: Hoàng Long - Gia Huy - Quý An - 2007) định nghĩa : “Triết học là môn học chuyên tìm tòi cái gốc của vũ trụ và việc sinh sống của vạn vật (là một môn học nghiên cứu tìm hiểu nguyên lý vạn vật) [89; tr.

Từ điển bách khoa toàn thư mở định nghĩa “Triết học” là bộ môn nghiên cứu về “những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, quy luật, ý thức và ngôn ngữ”. Cũng theo từ điển mở này, “Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê 6 phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận”. Như vậy, khái niệm “triết học” đều được hiểu theo tinh thần chung: là một môn/ ngành khoa học nghiên cứu về những vấn đề cơ bản, chung nhất (mang tính quy luật) liên quan đến con người. Vì vậy, triết học chính là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới trong đó có con người.

Bản chất của triết học là tiếp cận vấn đề theo hệ thống chung nhất và giải quyết vấn đề trên tinh thần duy lý mang tính phản biện. Đó là lý do, trong thuật ngữ cổ của cả phương Đông lẫn phương Tây, thuật ngữ "triết" đều hàm nghĩa "trí tuệ, thông thái". Khái niệm “triết lý”: Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), triết lý là “Lý luận triết học” hoặc “thuyết lý về những vấn đề nhân sinh xã hội”. Phạm Xuân Nam, tác giả của cuốn Triết lý phát triển ở Việt Nam - mấy vấn đề cốt yếu, Nxb KHXH, định nghĩa: Triết lý là những tư tưởng có tính triết học (tức là sự phản ánh đã đạt đến trình độ sâu sắc và khái quát cao) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người; là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội [100; tr.

Như vậy, khái niệm “triết lý” khá gần gũi với khái niệm khái niệm “triết luận”, dễ hiểu vì sao hai khái niệm này vẫn được dùng như nhau. Ở phương Tây, không có sự tách bạch về hai thuật ngữ triết luận và triết lý vì đều được diễn đạt bằng "philosophie", có nguồn gốc từ nguyên là "Philosophia", nghĩa là "yêu thích sự thông thái". Ở Việt Nam, hai thuật ngữ có sự khác nhau chút ít về diễn đạt, chẳng hạn, “triết lý” thiên về sắc thái suy tưởng, khái quát, “triết luận” thiên về tính chất luận giải, luận bàn. Nhìn chung, cả hai thuật ngữ “triết lý” và “triết luận” đều diễn đạt sắc thái nghĩa: suy tưởng, luận bàn về những vấn đề mang chiều sâu triết học hoặc luận bàn một cách trí tuệ, thông thái những vấn đề có tầm triết học.

Luận án sử dụng thuật ngữ “triết luận” với dụng ý nhằm nhấn mạnh cả hai yếu tố: “triết” (thông thái, trí tuệ) và “luận” (luận giải, bàn bạc) bởi thuật ngữ này sẽ thích hợp hơn khi nghiên cứu đặc điểm bút pháp của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. 7 Phong cách, bút pháp Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải giàu tính triết luận, nghĩa là vừa trí tuệ, thông thái vừa mang tính luận giải, bàn bạc. Phẩm chất đặc điểm này bộc lộ ở cả nội dung và hình thức, ở tất cả các phương diện thể loại của tác phẩm. Vị trí của yếu tố triết luận trong tác phẩm văn chương Văn chương, với ưu thế nổi bật là sử dụng công cụ ngôn ngữ nên được lựa chọn/ tìm đến để bộc lộ nhu cầu triết luận rõ nhất và cũng phong phú nhất.

Song, văn chương thiên về phạm trù nghệ thuật, tư duy văn chương chủ yếu là tư duy hình tượng; triết học thiên về phạm trù khoa học, tư duy triết học là tư duy trừu tượng. Văn chương được dẫn dắt bởi tình cảm, cảm xúc; triết học được triển khai bằng lý trí, logic. Mặc dầu vậy, hai “ngành” thuộc hai phạm trù tưởng rất đối lập này lại có những liên hệ, gặp gỡ rất thú vị. Ở thời “văn - sử - triết bất phân” người ta dường như đã đồng nhất hai phạm trù ấy với nhau, “buộc” chúng lẫn vào nhau không có ranh giới.

Nhiều nhà thơ, nhà soạn kịch cổ đại đồng thời nhà những triết gia: Platon, Aristotle, Socrates, Sophocle, Lão Tử, Khổng Tử v. Có quan điểm “nhất thống” triết học với văn chương bởi thời cổ đại các nhà tư tưởng/ nhà lập thuyết thường dùng văn chương để thuyết giáo, giảng Đạo. Những cuốn sách, bài thuyết ấy được gọi là sách Kinh, sách Thánh. Người viết lên những cuốn sách ấy gọi là thánh hiền.

Sách của họ viết ra gọi là sách Thánh Hiền. Quan điểm đào tạo và tuyển chọn người tài thời xưa là “văn võ song toàn”. Các sách “Tứ thư”, “Ngũ kinh” bao gồm tất cả các lĩnh vực để người ra làm quan sau này không chỉ am tường phép trị nước an dân mà còn giỏi văn chương. Tư tưởng “văn - sử - triết bất phân” kéo dài hàng nghìn năm suốt thời trung đại với quan điểm đề cao: “dĩ thi thủ sĩ”, “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí”.

Tư duy hiện đại khu biệt hóa đặc trưng, chức năng của từng ngành, từng lĩnh vực, triết học và văn chương được tách ra và được khu biệt ở tính đặc trưng, đặc thù. Tuy nhiên, sự liên hệ, tác động ảnh hưởng giữa triết học với văn chương thì vẫn rất chặt chẽ. Triết học xuyên thấm vào văn chương ở chủ đề tư tưởng tác phẩm. Mối quan hệ này thực chất là mối liên hệ giữa nhận thức tư tưởng với cảm hứng sáng tạo.

Mỗi tác phẩm văn chương trước hết là một thông điệp văn hóa, thể hiện trí tuệ, chiều sâu, truyền thống văn hóa - văn minh của mỗi dân tộc. Nhân loại từng ngỡ ngàng trước tính triết lý - triết luận trong các kho tàng thần thoại, các pho sử thi cổ 8 điển của các dân tộc trên thế giới, như Thần thoại Hi Lạp, sử thi Iliat - Ôđixê, Thần thoại Trung Quốc, sử thi Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ. Những kiệt tác văn chương của các cây bút lớn trên thế giới, như Faust của Goethe, Đôn Kihôtê của Cervantes, các vở bi kịch của Shakespeare, truyện ngắn của Jack London, O. cũng đồng thời là những công trình tư tưởng, giàu ý nghĩa triết lý nhân sinh, không chỉ hấp dẫn ở thời đại tác phẩm ra đời mà còn có có ý nghĩa với mọi thời đại bởi tư tưởng của các tác phẩm đã đạt tới những giá trị cốt lõi của chân - thiện - mỹ.

Văn học Việt Nam có thể tự hào góp phần cho văn học nhân loại những áng văn chương giàu trí tuệ: Mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường, Xống chụ xon xao của người Thái, Truyện Kiều của Nguyễn Du v. Như vậy, yếu tố triết luận là khái niệm nhằm chỉ khía cạnh triết học tiềm ẩn và hiện diện trong một sáng tạo nghệ thật nào đó. Nó bao gồm cả nội dung và hình thức biểu hiện. Đó là những ý tưởng mang tầm triết học mang đậm tính chủ quan của chủ thể sáng tạo được thể hiện một cách nghệ thuật.

Tìm hiểu, nghiên cứu yếu tố triết lý - triết luận trong các tác phẩm văn chương là góp phần tìm hiểu bản sắc độc đáo và tầm vóc của mỗi nền văn hóa. Nghiên cứu yếu tố triết luận trong các tác phẩm văn chương cũng là tìm hiểu cốt cách tâm hồn, trí tuệ, nhân cách nhà văn, qua đó có thể đánh giá vị trí, cống hiến của nhà văn với cộng đồng nhân loại và nền văn học dân tộc mà nhà văn đó thuộc về. Yếu tố triết luận làm nên tư tưởng và tầm vóc tác phẩm, mang lại khoái cảm trí tuệ - thẩm mỹ cho độc giả. Mỗi nền văn hóa có cách ứng xử và thể hiện tính triết lý - triết luận khác nhau.

Các giai đoạn, thời kỳ của mỗi nền văn hóa cũng có cách ứng xử và biểu hiện khác nhau với yếu tố triết luận trong các tác phẩm, ấy là chưa kể, mỗi cá tính sáng tạo lại có cách thể hiện của riêng mình, vì vậy, tìm hiểu, đánh giá yếu tố triết luận trong tác phẩm văn chương luôn là một thách đố thú vị đối với giới nghiên cứu nói riêng, người đọc nói chung. Những dấu ấn đặc sắc của yếu tố triết luận trong văn chương nhân loại Như đã đề cập, triết luận tạo nên tầm vóc tư tưởng, hồn cốt tác phẩm. Tác phẩm lớn là tác phẩm mang chiều sâu triết học nhân bản, chứa đựng những triết luận nhân sinh soi sáng đến muôn đời. Văn học nhân loại đã từng trải qua/ chứng kiến những nền văn học và những tác giả, tác phẩm xuất chúng bởi tư tưởng triết luận nhân văn sâu sắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ