I. Triết luận trong sáng tác Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải
Tác phẩm văn chương, nếu thiếu đi tư tưởng, dù có được tô vẽ lộng lẫy đến đâu cũng sẽ nhanh chóng tàn phai. Tư tưởng của tác phẩm mang đến khoái cảm trí tuệ và tạo nên sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Tác phẩm có tư tưởng thường không thể thiếu yếu tố triết luận, chạm đến những quy luật cốt lõi của cuộc sống. Yếu tố triết luận nâng tầm tư tưởng cho tác phẩm, góp phần làm cho nhà văn trở thành một nhà tư tưởng. Một nền văn học lớn không thể thiếu những nhà văn với tác phẩm giàu tư tưởng và tính triết luận. Yếu tố triết luận hiện diện ở mọi phương diện đời sống văn hóa của con người, vừa thuộc phạm trù nhận thức, vừa thuộc phạm trù phản ánh, là kết quả và cũng là mục đích hướng tới của con người trong quá trình khám phá và chinh phục thế giới. Văn chương, với ưu thế nổi bật là sử dụng công cụ ngôn ngữ, được lựa chọn để bộc lộ nhu cầu triết luận một cách rõ ràng và phong phú nhất. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, sức hấp dẫn trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu là 'chất thơ và chiều sâu triết học'.
1.1. Khái niệm Triết luận và các Thuật ngữ Liên quan
Khái niệm "triết luận" là sự kết hợp của hai từ “triết” và “luận”. “Triết” chỉ sự thông minh, sáng suốt, hiểu rõ sự lý. “Luận” là bàn về vấn đề gì, có phân tích lý lẽ. Hai từ “triết luận” đi với nhau tạo nên nghĩa tổng thể là: luận bàn thông thái, sáng suốt. Cũng có thể hiểu triết luận để chỉ vấn đề vừa có tính tranh luận vừa chứa đựng sự thông thái, sáng suốt. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), triết lý là “Lý luận triết học” hoặc “thuyết lý về những vấn đề nhân sinh xã hội”. Phạm Xuân Nam định nghĩa: Triết lý là những tư tưởng có tính triết học (tức là sự phản ánh đã đạt đến trình độ sâu sắc và khái quát cao) được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người; là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội [100; tr.
1.2. Vị trí Cốt yếu của Triết luận trong Tác phẩm Văn chương
Văn chương, với ưu thế nổi bật là sử dụng công cụ ngôn ngữ nên được lựa chọn để bộc lộ nhu cầu triết luận rõ nhất và cũng phong phú nhất. Song, văn chương thiên về phạm trù nghệ thuật, tư duy văn chương chủ yếu là tư duy hình tượng; triết học thiên về phạm trù khoa học, tư duy triết học là tư duy trừu tượng. Văn chương được dẫn dắt bởi tình cảm, cảm xúc; triết học được triển khai bằng lý trí, logic. Mặc dầu vậy, hai “ngành” thuộc hai phạm trù tưởng rất đối lập này lại có những liên hệ, gặp gỡ rất thú vị. Ở thời “văn - sử - triết bất phân” người ta dường như đã đồng nhất hai phạm trù ấy với nhau, “buộc” chúng lẫn vào nhau không có ranh giới.
II. Điểm tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Minh Châu Khải
Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải là những tên tuổi xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Hai tác giả cùng có đóng góp nổi bật ở cả hai thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, trước Đổi mới và khơi nguồn đổi mới, góp phần đưa văn học Việt Nam tiếp cận với văn học thế giới hiện đại. Cùng sinh năm 1930, cả hai thuộc lớp thế hệ nhà văn - chiến sỹ, đều cầm súng trước khi cầm bút, vừa là đồng chí, vừa là đồng nghiệp, cùng say mê sáng tạo dưới một mái nhà chung là Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nguyễn Khải gọi Nguyễn Minh Châu là “người bạn đồng sàng đồng mộng từ thuở tóc còn xanh tới lúc bạc đầu”. Điều thú vị là cả hai cây bút đều cùng yêu mến và kính trọng nhà văn Nam Cao, coi Nam Cao là bậc thầy.
2.1. Tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải - hai cá tính sáng tạo, mỗi người một vẻ, nhưng nếu đặt cạnh nhau, người ta bỗng bất ngờ bởi nét tương đồng, đó là cùng đam mê triết lý, triết luận, đều rất coi trọng phẩm chất tư tưởng trong tác phẩm. Theo nhà nghiên cứu Lã Nguyên, sức hấp dẫn trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu là 'chất thơ và chiều sâu triết học'. Độc giả, cũng như các nhà nghiên cứu khi tiếp cận tác phẩm của hai nhà văn dường như đều có chung ấn tượng, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải rất giàu tính triết lý.
2.2. Tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Khải
Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải - hai cá tính sáng tạo, mỗi người một vẻ, nhưng nếu đặt cạnh nhau, người ta bỗng bất ngờ bởi nét tương đồng, đó là cùng đam mê triết lý, triết luận, đều rất coi trọng phẩm chất tư tưởng trong tác phẩm. Theo Phan Cự Đệ cho rằng: mặt mạnh của ngòi bút Nguyễn Khải là tác phẩm của ông luôn nổi lên những vấn đề khái quát có ý nghĩa triết học và đạo đức nhân sinh. Dù có điểm gặp gỡ, họ vẫn mỗi người một vẻ, chinh phục độc giả bởi cá tính sáng tạo của riêng mình. Có lẽ vì vậy, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải luôn được quan tâm, yêu mến của độc giả nói chung, giới nghiên cứu nói riêng.
III. Cách thể hiện yếu tố triết luận trong sáng tác của 2 nhà văn
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá yếu tố triết lý, triết luận trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, song, dường như chỉ mới có những tìm hiểu, nghiên cứu độc lập ở từng tác giả hoặc ở một phương diện nào đó của tác phẩm. Một công trình nghiên cứu chuyên sâu kết hợp với góc nhìn so sánh sẽ là hướng tiếp cận mới mẻ và có ý nghĩa khoa học để nhận ra nét riêng độc đáo trong tư duy và cá tính nghệ thuật của mỗi cây bút, đặc biệt sẽ tìm ra sắc vẻ riêng ở phẩm chất triết luận - yếu tố làm nên ấn tượng đặc biệt trong tác phẩm của hai tác giả.
3.1. Quan niệm tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng NMC
Nguyễn Minh Châu Quan niệm “tác phẩm văn học sống bằng tư tưởng”. Đề tài, chủ đề giàu tính tư tưởng. Đề tài trong tác phẩm chứa đựng tính phổ quát. Tính “nhiều lớp” của mạch truyện. Nhân vật và hình tượng giàu tính biểu tượng. Điểm nhìn trần thuật từ bên trong tạo nên giọng điệu suy tư, đối thoại.
3.2. Quan niệm văn chương là khoa học thể hiện lòng người NK
Nguyễn Khải: Quan niệm “văn chương là khoa học thể hiện lòng người”. Triết luận trong tác phẩm Nguyễn Khải qua phương diện đề tài, chủ đề với tính thời sự, dự báo. Mạch truyện giàu tính chính luận. Mạch truyện giàu tính thông tin thời cuộc. Kết cấu mạch truyện chính luận. Nhân vật bản lĩnh với cái tôi khôn ngoan sắc sảo. Giọng trần thuật theo hướng tranh luận, đối thoại. Ngôn ngữ trần thuật vừa kể - tả vừa nhận xét, bình luận. Dựng nên những màn đối thoại, tranh luận.
3.3. Những gặp gỡ trong bút pháp triết luận
Những điểm gặp gỡ trong bút pháp triết luận của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. Gặp gỡ trong quan điểm: đề cao tính tư tưởng của văn chương. Đề tài và chủ đề tác phẩm thường lộ rõ tính “luận đề”. Nhân vật giàu tính biểu tượng. Nhân vật biểu tượng cho những ý tưởng, mục tiêu chính trị - xã hội. Nhân vật biểu tượng cho cái Đẹp - Đạo đức - Nhân cách. Nhân vật đạt đến tầm cổ mẫu (archetype). Trần thuật thường đan xen giữa kể - tả và bình luận.
IV. Phương pháp nghiên cứu triết luận trong sáng tác 2 nhà văn
Để triển khai đề tài, cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp tiểu sử học, phương pháp phân tích văn học, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phân loại. Đề tài cũng sẽ phối hợp vận dụng phương pháp tự sự học, phương pháp nghiên cứu liên ngành, cùng với việc tham khảo thêm các lý thuyết hiện đại, để nghiên cứu và phân tích tác phẩm nhằm làm sáng tỏ hơn độc đáo nghệ thuật của mỗi cây bút.
4.1. Phương pháp Tiểu sử học Tiếp cận Lịch sử
Với đối tượng nghiên cứu là hai tác giả mà tác phẩm của họ chịu sự tác động và chi phối lớn từ hoàn cảnh nên luận án sẽ vận dụng phương pháp tiểu sử học cùng với cách tiếp cận lịch sử để lý giải một số vấn đề. Từ những phân tích cụ thể, sẽ giúp cho những đánh giá, khái quát có cơ sở và thuyết phục.
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu phong cách hai nhà văn
Bản thân đề tài nghiên cứu đã đặt ra yêu cầu phải vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai cá tính phong cách. Luận án sẽ sử dụng cả hai phương thức so sánh: đồng đại (cùng giai đoạn/ chặng) và so sánh lịch đại (trước với sau) để thấy sự vận động thay đổi ở mỗi cây bút.