Yếu Tố Thúc Đẩy Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài

Chuyên khảo phân tích Đề tài yếu tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra ngoài của nước đi đầu tư, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2025

54
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Một số khái niệm

1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3.1. Phân theo hình thức nắm vốn chủ sở hữu

1.3.2. Phân theo mục đích đầu tư

1.3.3. Phân theo chiến lược đầu tư

1.3.4. Phân theo tính chất sở hữu

1.3.4.1. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
1.3.4.2. Doanh nghiệp liên doanh
1.3.4.3. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh)
1.3.4.4. Hợp đồng BOT (Xây dựng – Khai thác – Chuyển giao)
1.3.4.5. Công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.3.4.6. Mua lại và Sáp nhập (M&A)
1.3.4.7. Công ty mẹ - con (Holding company)
1.3.4.8. Chi nhánh công ty nước ngoài

1.3.5. Phân theo hình thức không nắm vốn chủ sở hữu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để nền kinh tế của một nước phát triển thì vốn đầu tư là một yếu tố không thể thiếu. Bên cạnh nguồn vốn từ trong nước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn vốn vô cùng quan trọng. yếu tố này không những quan trọng đối với các nước đang phát triển mà còn ngay cả các nước phát triển trên thế giới cũng rất quan tâm đến vẫn đề thu hút nguồn vốn này. Đặc biệt khi hiện tại Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài FDI là hết sức cần thiết. Tuy nhiên có rất nhiều yếu tố tác động cũng như các nhân tố thúc đẩy quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài, gồm cả những yếu tố của môi trường đầu tư quốc tế, của nước đi đầu tư và cả nước nhận đầu tư… 1. Một số khái niệm - Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai,…vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận. - Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý,…từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cáo trên phạm vi toàn cầu. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư hay nước sở tại) có được một tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư hay nước chủ nhà) cùng với quyền quản lý tài sản đó. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư. Thứ hai là đầu tư trực tiếp nước ngoài được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp. Thứ ba,nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp. Thứ tư là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao. Thứ năm,nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng vốn đầu tư. Thứ sáu,FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó. Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện. Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được 20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải chú ý để 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế. Các hình thức của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Phân theo hình thức nắm vốn chủ sở hữu 1. Phân theo mục đích đầu tƣ Nếu xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân thành 2 loại chính: Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Integration-HI) và Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Integration - VI). Hình thức HI phù hợp với các chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh, ví dụ về công nghệ, kỹ năng quản lý,…trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này, họ có thể kiếm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài. Mục đích của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền. Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Mỹ và được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển. Khác với hình thức HI, hình thức VI là đầu tư ra nước ngoài với mục đích là khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ như lao động, đất đai,…Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế. Do đó, các sản phẩm thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở các nước nhận đầu tư. Sau đó các sản phẩm này có thể lại được khẩu về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang nước khác. Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Nhật Bản, theo kiểu mô hình đàn nhạn bay, và được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển. Ví dụ: Grand-place Việt Nam (GPV) – một ví dụ về đầu tư theo chiều dọc 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Grand-place Việt Nam là một công ty được thành lập bởi BIO (Belgian Investment Company For Developing Countries) chuyên về socola được sản xuất tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến khi sản phẩm cuối cùng được hình thành. Bắt đầu hoạt động tại Việt nam năm 1994, GPV là nhà sản xuất socola Bỉ. Đến năm 2009, công ty đã sản xuất và cung cấp cho các khách sạn, nhà hàngbánh kẹo, tiệm kem,…trong nước hơn 3000 tấn mỗi năm. Thêm vào đó, GPV còn có sản phẩm xuất khẩu sang nhiều nước ở Bắc Mỹ và Châu Á. Nhận thấy điều kiện cũng như tiềm năng trồng ca cao ở Việt Nam, BIO đã hỗ trợ, hướng dẫn người đân địa phương về kĩ thuật trồng và chế biến ca cao; sau đó đề xuất chiến lược sản xuất socola ngay tại khu vực ca cap được trồng. Bằng việc cho ra đời loại ca cao “made in Vietnam”, GPV đã tạo được giá trị gia tăng cao thông qua việc tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương cùng những kiến thức và công nghệ BIO đã chuyển giao trong quá trình sản xuất. Với chiến lược kinh doanh như vậy, GPV đa giảm thiểu được chi phí nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, gia tăng hiệu quả sản xuất cũng như giá trị xuất khẩu của socola. (Nguồn: website chính thức của BIO www. Phân theo chiến lƣợc đầu tƣ Xét theo chiến lược đầu tư, đầu tư được thực hiện qua 2 kênh chủ yếu là Đầu tư mới (Greenfield Investment – GI) và Mua lại & sáp nhập (Mergers and Acquisitions – M&A). Đầu tư mới là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển. Ngược lại, kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này chủ yếu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ta có thể so sánh một chút về 2 hình thức trên, cả về ưu và nhược điểm. Về vấn đề bổ sung vốn đầu tư, trong khi hình thức GI bổ sung ngay một lượng vốn đầu tư nhất định cho nước nhận đầu tư thì hình thức M&A lại chủ yếu là chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công ty nước ngoài. Tuy nhiên về dài hạn, hình thức M&A này cũng sẽ thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động của họ. Thứ hai, về vấn đề tạo việc làm, hình thức GI tạo ngay được việc làm cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc làm ngay mà còn có thể tăng thêm tình trạng căng thẳng về việc làm cũng như vấn đề thất nghiệp. Vấn đề thứ ba là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. GI tác động trực tiếp đến thay đổi cơ cấu ngành kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới, trong khi đó M&A lại không tác động đến trong ngắn hạn. Cuối cùng là vấn đề về cạnh tranh và an ninh quốc gia. Trong khi GI thúc đẩy cạnh tranh thì M&A lại không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắn hạn, nhưng về dài hạn lại có thể làm tăng khả năng cạnh tranh độc quyền. Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức GI bởi vì tài sản của nước chủ nhà rơi vào tay của người nước ngoài. Phân theo tính chất sở hữu Trong luật đầu tư của các nước chủ nhà có quy định tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tùy theo lĩnh vực đầu tư. Xét theo mức độ nắm giữ cổ phần và mức độ tham gia vào hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, FDI có thể được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng xây dựng – khai thác – chuyển giao (BOT), công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mua lại và sáp nhập, công ty mẹ - con, chi nhánh công ty nước ngoài,… - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ