Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này, tác giả nêu lên lý do chọn đề tài nghiên cứu; xác định mục tiêu nghiên cứu chung và các mục tiêu 9 nghiên cứu cụ thể; từ mục tiêu nghiên cứu tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu; Xác định các đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài; Trong chương này tác giả trình bày tóm tắt các phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu toàn đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Trong chương 2, tác giả trình bày một số khái niệm, phân loại động lực, các thuyết liên quan về động lực lao động, các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương 3, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu và hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng trong đề tài. Để từ đó xác định được mô hình nghiên cứu chính thức, quy mô mẫu, cách thức thu thập và phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Trong chương 4, tác giả trình bày các kết quả của nghiên cứu định lượng để từ đó có thể kết luận được sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, mức độ tác động của các nhân tố độc lập đến nhân tố phụ thuộc thông qua việc: đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy, kiểm định sự khác biệt của mô hình theo các đặc điểm cá nhân. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Trong chương 5, tác giả trình bày các hàm ý quản trị nhằm giúp các nhà lãnh đạo có cơ sở để xây dựng các giải pháp, chính sách nhằm nâng cao động lực làm việc cho CBCCVC trên địa bàn huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm 2.1 Động lực, tạo động lực làm việc 2.1 Khái niệm động lực, động lực làm việc - Động lực: Theo Mitchel.l (1999), cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.
Ngoài ra, Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014): Động lực, được hiểu một cách chung nhất, là tất cả những cái gì thôi thúc con người, ảnh hưởng đến con người thúc đẩy con người hoạt động. Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có những động lực khác nhau và khi có động lực thúc đẩy họ sẽ nỗ lực hết sức để đạt được những mong muốn, mục đích của mình và cũng được Bùi Anh Tuấn (2003): động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục đích của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Động lực thúc đẩy và sự thỏa mãn là khác nhau.
Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được những mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Từ những ý niệm nêu trên, có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi nhằm đạt mục tiêu nhất định. - Động lực làm việc (lao động): Theo Robbins, 1998: Động lực làm việc được định nghĩa là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. 11 Theo Mitchell, 1982: Động lực làm việc thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu.
Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân, 2012: Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc của cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ: chẳng hạn như nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị.
Qua đó, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động là.: "Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động". Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động và do các nhân tố bên ngoài tạo ra, là nguồn gốc dẫn đến năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức. Nó không phải là đặc tính cá nhân.
Do vậy, muốn tạo động lực cho người lao động thì nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trường làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất.2 Khái niệm tạo động lực làm việc - Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. - Hệ thống các mục tiêu chính của người lao động. 12 + Mục tiêu thu nhập đây là mục tiêu quan trọng nhất khiến người lao động làm việc bởi vì thu nhập giúp người lao động trang trải cuộc sống của bản thân họ và gia đình, đảm bảo cho sự sống và phát triển. + Mục tiêu phát triển cá nhân: đây là mục tiêu mà người lao động mong muốn tự làm hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội.
Mục tiêu này được nâng cao, chú trọng hơn khi người lao động đã có đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống. + Mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội là nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội để tự khẳng định mình. Khi hai mục tiêu trên đã được đáp ứng nhu cầu thỏa mãn các hoạt động xã hội được người lao động chú trọng quan tâm hơn. Như vậy tạo động lực lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình.2 Nhu cầu và động cơ 2.1 Khái niệm nhu cầu Theo Wikipedia, nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được, là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận, nó chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng, được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong. đời sống xã hội.
Cho nên về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu của cá nhân đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được người đó (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu). Việc người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu 13 cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Như vây có thể nói: Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống.
Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.2 Khái niệm động cơ Động cơ là cấu trúc đại diện cho nguồn động lực bên trong không dễ nhận ra của con người làm tác động và nảy sinh hành vi phản hồi, định hướng trực tiếp cho sự phản hồi đó. Một động cơ không thể nhìn thấy và sự tồn tại của động cơ chỉ có thể được suy luận ra từ hành vi của mỗi cá nhân. Động cơ đó là lý do tại sao một cá nhân làm điều gì đó. Khi các động cơ thúc đẩy trở nên mạnh mẽ, chúng vẫn phụ thuộc vào hoàn cảnh.3 Cán bộ, công chức, viên chức Cán bộ: Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Công chức năm 2008 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Công chức: Tại Khoản 2 Điều 4 Luật Công chức năm 2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị.