Chương 1 trình bày tổng quan nghiên cứu. Chương 2 trình bàycơ sở lý thuyết.Chương 3 trình bày về tổng quan hệ thống y tế Việt Nam. Chương 4 trình bày về phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Cuối cùng làChương 5 trình bàykết luận nghiên cứu, những gợi ý chính sách, hướng mở rộng nghiên cứu và những hạn chế của đề tài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Cơ sở lý thuyết là phần quan trọng của một nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày về lý thuyết hàm tối đa hóa hữu dụng. Lý thuyết này giả định là người tiêu dùng cố gắng đem lại lợi ích tối đa bằng cách sử dụng một số lượng nguồn lực nhất định nào đó. Nghĩa là, trong số những hàng hóa mà người tiêu dùng có thể mua được, người tiêu dùng sẽ chọn nhóm hàng hóa có khả năng mang lại sự thỏa mãn tối đa.
Vì thế, mục tiêu của chương này là nhằm nghiên cứu cách thức người tiêu dùng sử dụng thu nhập của mình để tối đa hóa sự thỏa mãn của bản thân.Trong điều kiện giới hạn về thu nhập, khi mua (tiêu dùng) một hàng hóa nào đó, người tiêu dùng sẽ cân nhắc xem liệu rằng hàng hóa đó có thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mình không. Chương này cũng sẽ giải thích sự lựa chọn của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng của giá hàng hóa, thu nhập, thị hiếu,. Tiếp theo tác giả trình bày khung phân tích của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết của hàm hữu dụng Nhiều tác giả đồng ý rằng lý luận của kinh tế học phúc lợi Tân Cổ Điển đặc biệt quan trọng và cần thiết để hiểu được việc đi đến một phân tích chuẩn tắc trong lĩnh vực sức khỏe.Kinh tế học phúc lợi Tân Cổ Điển gồm bốn nội dung cơ bản là sựtối đa hóa thỏa dụng, chủ quyền cá nhân, chủ nghĩa quy kết (giá trị của hành động được đánh giá trên kết quả của hành động đó) và chủ nghĩa phúc lợi.
Yếu tố đầu tiên, sự tối đa hóa mức thỏa dụng, về bản chất là một giả định về hành vi. Ba yếu tố sau là những giả định chuẩn tắc về việc ai là người đúng đắn nhất để phán quyết về phúc lợi và về các tiêu chuẩn để đánh giá sự hợp lý trong phân bổ phúc lợi. Sự tối đa hóa mức thỏa dụng giả định rằng những cá nhân lựa chọn một cách lý trí. Với những lựa chọn nhất định, một cá nhân có khả năng phân biệt và xếp hạng để chọn ra phương án được ưa thích nhất theo những quan điểm mang tính nhất quán không có sự mâu thuẫn.
Tính nhất quán rất quan trọng không có tính nhất quán người ta khó có thể suy luận và khái quát hóa từ những hành vi quan sát được.Chủ quyền cá nhân đề cập đến việc cá nhân là người đưa ra phán xét tốt nhất cho phúc lợi của chính mình, và rằng mỗi sự đánh đổi phúc lợi cá nhân nên dựa trên đánh giá của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bản thân cá nhân đó. Nguyên tắc này phản bác chủ nghĩa gia trưởng, vốn quan niệm rằng một bên thứ ba có thể am tường hơn chính những cá nhân về việc phân chia phúc lợi của cá nhân.Chủ nghĩa quy kết quan niệm rằng mọi hành động, lựa chọn và chính sách chỉ được đánh giá trên kết quả mà lựa chọn đó hoặc chính sách đó mang lại. Chính kết quả chứ không phải quá trình mới là điều quan trọng.Chủ nghĩa phúc lợi là ý tưởng về việc hiệu quả của mọi việc (ví dụ phân bổ nguồn lực) chỉ được phán quyết dựa trên mức thỏa dụng mà cá nhân đạt được từ việc đó. Chủ nghĩa phúc lợi loại trừ tất cả các quan điểm ngoàivấn đề thỏa dụng (Cao Thúy Xiêm,2008).
Khái niệm hữu dụngđề cập đến tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ mà có khả năng thỏa mãn ít nhất một nhu cầu nào đó của con người. Các nhà kinh tế học cho rằng hàng hóa, dịch vụ có tính hữu dụng. Trong kinh tế học, thuật ngữ hữu dụng được dùng để chỉ mức độ thỏa mãn của con người sau khi tiêu dùng một số lượng hàng hóa, dịch vụ nhất định. Trong thực tế, hữu dụng không thể quan sát cũng như không thể đo lường được mà được suy diễn từ hành vi của người tiêu dùng.
Các nhà kinh tế học giả định người tiêu dùng có thể xếp hạng các hàng hóa theo sự ưa thích của bản thân hay mức hữu dụng mà chúng đem lại.Nghĩa là, người tiêu dùng có thể bàng quan hay biết được hàng hóa này mang lại thỏa dụng cao hơn hàng hóa kia nhưng không biết chính xác cao hơn bao nhiêu. Trong trường hợp lý tưởng, các nhà kinh tế học giả sử hữu dụng có thể được đo lường bằng số và đơn vị của phép đo lường này là đơn vị hữu dụng (đvhd).Trong một chừng mực nhất định, người tiêu dùng thích nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn ít. Tất nhiên đây phải là những hàng hóa được mong muốn, chứ không phải những hàng hóa không mong muốn. Rõ ràng, người tiêu dùng cảm thấy thỏa mãn nhiều hơn khi tiêu dùng nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn.
Ngoài ra các nhà kinh tế học cũng cho rằng thị hiếu có tính bắc cầu và giả thiết này cho thấy sở thích của người tiêu dùng có tính nhất quán theo thời gian. Như vậy, khái niệm về hữu dụng dùng để tóm tắt cách xếp hạng các tập hợp hàng hóa, dịch vụ theo sở thích của người tiêu dùng (Cao Thúy Xiêm, 2008). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Từ khái niệm thuật ngữ hữu dụng, các nhà kinh tế học định nghĩa tổng hữu dụng là toàn bộ lượng thỏa mãn đạt được do tiêu dùng một số lượng hàng hóa hay một tập hợp các hàng hóa, dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Tổng hữu dụng được ký hiệu là U.
Như vậy, mức hữu dụng mà một cá nhân có được từ việc tiêu dùng phụ thuộc vào số lượng hàng hóa, dịch vụ mà cá nhân đó tiêu dùng. Theo đó, chúng ta có khái niệm về hàm hữu dụng (Cao Thúy Xiêm, 2008). Hàm hữu dụnglà hàm biểu diễn mối liên hệ giữa số lượng hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng và mức hữu dụng mà một cá nhân đạt được từ việc tiêu dùng số lượng hàng hóa, dịch vụ đó. Hàm hữu dụng thường được viết như sau U = U(X) trong đó U là tổng mức hữu dụng đạt được và X là số lượng hàng hóa tiêu dùng.
Lưu ý là trong trường hợp này X vừa được dùng để chỉ tên một hàng hóa, dịch vụ nào đó và cũng đồng thời chỉ số lượng được tiêu dùng của hàng hóa đó. Nếu một cá nhân tiêu dùng một tập hợp hai hay nhiều hàng hóa X1,X2,X3, .,Xk thì hàm tổng ����� hữu dụng có dạng: U = U(X1,X2,X3,. Hàm hữu dụng của cá nhân có dạng Ui = Uij(X1,X2,X3, .,Xk) + ɛij với i = ����� 1, 𝑘𝑘 ; j = ����� 1, 𝑛𝑛trong đó X1,X2,X3, .,Xklà các yếu tố quan sát được, ɛij là các yếu tố không quan sát được. Thuộc tính quan sát được có thể là thu nhập, giá dịch vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm, tuổi, dân tộc, địa bàn cư trú và một số yếu khác.
Các thuộc tính không quan sát được có thể là tâm lý, nhận thức của cá nhân về cơ sở y tế, chất lượng và một số yếu tố khác. Một số đặc điểm của thị trường chăm sóc sức khỏe Cũng như những thị trường hàng hóa dịch vụ khác, chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó nhà cung ứng và người sử dụng giao dịch với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác chăm sóc sức khỏe còn có một số đặc điểm riêng bởi những đặc điểm riêng này mà thị trường chăm sóc sức khỏe vừa là thị trường mà vừa không là thị trường. Vậy những đặc điểm riêng vốn có của thị trường chăm sóc sức khỏe là gì tác giả xin nêu một số đặc điểm như sau: Đặc điểm thứ nhất của thị trường chăm sóc sức khỏe mà hầu hết các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhà nghiên cứu về kinh tế sức khỏe đều nhận thấy rằng mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh ở bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở mỗi thời điểm có mức độ khác nhau.
Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được. Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể, khi người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định. Như vậy, bệnh nhân chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị (cơ sở y tế), còn đa phần bác sĩ sẽ là người chọn phương pháp điều trị bệnh.
Do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với tính mạng con người nên trong những thời điểm tính mạng bị đe dọa, bệnh nhân gần như không có sự lựa chọn kể cả khi không còn khả năng chi trả viện phí bệnh nhân vẫn phải tiếp tục chữa bệnh. Có thể nói đây là đặc điểm khác biệt nhất của thị trường chăm sóc sức khỏe không giống các loại hàng hóa dịch vụ khác, nếu hàng hóa không phải là sức khỏe, người mua có thể có nhiều giải pháp lựa chọn khác, thậm trí tạm thời không mua nếu chưa có khả năng tài chính. Do có những đặc điểm riêng biệt trên, nên cơ chế thị trường không thể vận hành một cách hiệu quả (Lê Quang Cường, 2014) Các nhà phân tích kinh tếđã thừa nhận rằng trong thị trường chăm sóc sức khỏe luôn tồn tại các yếu tố thất bại thị trường. Thị trường y tế không phải thị trường tự do.
Giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe không dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của người mua (bệnh nhân) và người bán (sơ sở y tế) giá dịch vụ do người bán quyết định. Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế. Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất do nhà nước qui định.