Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật dân sự, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (BTTHNHĐ) giữ vai trò cốt lõi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi bị hành vi trái pháp luật xâm phạm. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các tranh chấp liên quan đến BTTHNHĐ diễn ra ngày càng đa dạng, phức tạp về quy mô lẫn tính chất. Một trong những vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp bắt nguồn từ nhận thức và áp dụng các quy định liên quan đến yếu tố lỗi.
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã có bước chuyển biến quan trọng khi không còn quy định yếu tố lỗi là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ như tại BLDS năm 2005. Tuy nhiên, yếu tố lỗi vẫn giữ vai trò then chốt trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm, phân định loại trách nhiệm (riêng rẽ, liên đới, hỗn hợp), xác định mức bồi thường, căn cứ giảm mức hoặc loại trừ trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hoàn trả. Do quy định của BLDS năm 2015 mới dừng lại ở việc ghi nhận cần xem xét yếu tố lỗi mà chưa có định nghĩa cụ thể, việc xác định sai lệch mức độ lỗi của các bên trong thực tiễn xét xử dễ dẫn đến những phán quyết chưa thỏa đáng. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Lan Hương (năm 2023).
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các bất cập trong quy định của BLDS hiện hành và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về yếu tố lỗi trong trách nhiệm BTTHNHĐ; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và phân loại yếu tố lỗi trong mối liên hệ với các nguyên tắc chung của trách nhiệm BTTHNHĐ.
- Về mặt thực trạng pháp luật: Phân tích, đánh giá các quy định của BLDS năm 2015 về yếu tố lỗi trên cơ sở đối chiếu với các quy định tại BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005.
- Về mặt thực tiễn áp dụng và kiến nghị: Phân tích thực tiễn xét xử thông qua các bản án cụ thể, chỉ ra vướng mắc trong việc đánh giá lỗi và đề xuất phương hướng hoàn thiện.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận pháp lý, quy định pháp luật thực định và thực tiễn xét xử của Tòa án về yếu tố lỗi trong trách nhiệm BTTHNHĐ.
- Phạm vi nghiên cứu: Pháp luật dân sự Việt Nam về yếu tố lỗi trong BTTHNHĐ (trọng tâm là BLDS năm 2015, có so sánh với BLDS năm 1995 và 2005) gắn liền với các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp trong thực tiễn xét xử.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý, nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu và phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống:
-
Văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn:
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 156, 288, 364, 584, 585, 586, 587, 594, 596, 597, 598, 599, 600, 601, 602, 603, 605).
- Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 609) và Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 604).
- Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật); Thông tư số 173-UBTP ngày 23/03/1972 của Tòa án nhân dân Tối cao.
- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Tài liệu so sánh luật học: Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1147, Điều 1383), Bộ luật Dân sự Đức (Điều 823, Điều 828), Luật La Mã cổ đại và hệ thống Thông luật (Anh - Mỹ).
-
Công trình khoa học tham khảo: Giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; các công trình chuyên khảo, bài viết của PGS.TS. Phùng Trung Tập, TS. Hoàng Thế Liên, PGS.TS. Đỗ Văn Đại, TS. Nguyễn Minh Tuấn, TS. Phạm Kim Anh, TS. Lê Giang.
-
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết pháp lý.
- Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định qua các thời kỳ lập pháp và giữa các hệ thống pháp luật).
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
- Phương pháp phân tích án văn, nghiên cứu hồ sơ bản án thực tế.
-
Nguồn dữ liệu thực tiễn: Các bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp (TAND tỉnh Long An, TAND huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý của trách nhiệm BTTHNHĐ và làm rõ vị trí của yếu tố lỗi từ góc độ lịch sử cũng như so sánh luật học.
- Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm BTTHNHĐ: Tác giả chỉ ra trách nhiệm BTTHNHĐ là trách nhiệm pháp lý do luật định phát sinh giữa các chủ thể khi có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
| Tiêu chí so sánh |
Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng |
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng |
| Căn cứ phát sinh |
Dựa trên hợp đồng có trước và hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. |
Phát sinh do hành vi trái luật hoặc do tài sản gây ra, không phụ thuộc vào hợp đồng có trước. |
| Chủ thể chịu trách nhiệm |
Chỉ áp dụng đối với các bên tham gia quan hệ hợp đồng. |
Áp dụng cho người gây thiệt hại, chủ sở hữu tài sản, hoặc chủ thể khác (cha mẹ, người giám hộ, pháp nhân, nhà nước...). |
| Mức bồi thường |
Do các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng hoặc theo quy định luật. |
Bồi thường toàn bộ và kịp thời thiệt hại thực tế xảy ra (có ngoại lệ giảm mức). |
| Hậu quả pháp lý |
Bắt buộc thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận đã cam kết. |
Luôn dẫn đến hậu quả bất lợi về mặt tài sản đối với người chịu trách nhiệm. |
- Khái niệm và hình thức lỗi: Dưới góc độ tâm lý - pháp lý, lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Khóa luận phân tích hai hình thức lỗi cơ bản:
- Lỗi cố ý: Người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn (cố ý trực tiếp) hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra (cố ý gián tiếp).
- Lỗi vô ý: Người gây thiệt hại không thấy trước hành vi có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước (vô ý do cẩu thả), hoặc thấy trước nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được (vô ý vì quá tự tin).
- Lược sử lập pháp: Yếu tố lỗi đã được ghi nhận từ Bộ luật Hồng Đức, qua Thông tư số 173-UBTP (1972), BLDS năm 1995 (Điều 609), BLDS năm 2005 (Điều 604) với tư cách là điều kiện tiên quyết làm phát sinh trách nhiệm. Đến BLDS năm 2015, nhà làm luật đã loại bỏ yếu tố lỗi ra khỏi căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhằm giảm bớt gánh nặng chứng minh cho nạn nhân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện 7 khía cạnh áp dụng yếu tố lỗi theo các điều khoản của BLDS năm 2015:
- Lỗi trong việc xác định điều kiện làm phát sinh trách nhiệm: BLDS năm 2015 chỉ quy định 3 căn cứ: có thiệt hại thực tế, có hành vi trái pháp luật và có mối quan hệ nhân quả. Yếu tố lỗi không còn là căn cứ bắt buộc để xác lập nghĩa vụ bồi thường nhưng chuyển sang tác động đến nội dung và mức độ bồi thường.
- Lỗi trong việc xác định căn cứ loại trừ trách nhiệm: Khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015 quy định miễn trách nhiệm khi thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng (Khoản 1 Điều 156) hoặc "hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại". Đối với nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601), chủ sở hữu/người chiếm hữu chỉ được loại trừ trách nhiệm khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của bên bị thiệt hại. Trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 594) cũng là căn cứ loại trừ trách nhiệm nếu không vượt quá giới hạn.
- Lỗi trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường:
- Cá nhân từ đủ 18 tuổi tự chịu trách nhiệm khi có năng lực hành vi.
- Trường hợp người chưa thành niên: Nếu dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ (trách nhiệm đương nhiên, không phụ thuộc vào lỗi của cha mẹ); nếu từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi thì bồi thường bằng tài sản riêng, thiếu thì cha mẹ bồi thường phần còn lại (Điều 586).
- Nhà trường, bệnh viện, cơ sở dạy nghề (Điều 599) hoặc người giám hộ (Điều 55) chỉ phải bồi thường nếu có lỗi trong việc quản lý, giám sát người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.
- Cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do người của pháp nhân (Điều 597), người thi hành công vụ (Điều 598), hoặc người làm công/học nghề (Điều 600) gây ra khi thực hiện nhiệm vụ.
- Lỗi trong việc xác định loại trách nhiệm:
- Trách nhiệm riêng rẽ: Từng chủ thể chịu trách nhiệm tương ứng với phần lỗi và thiệt hại do mình gây ra mà không có sự liên kết ý chí.
- Trách nhiệm liên đới (Điều 288, Điều 587): Khi nhiều người cùng gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì bồi thường theo phần bằng nhau. Trách nhiệm liên đới cũng đặt ra đối với chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ khi có lỗi để tài sản bị chiếm hữu trái pháp luật (Điều 601), súc vật gây thiệt hại (Điều 603), hoặc công trình xây dựng (Điều 605).
- Trách nhiệm hỗn hợp (Khoản 4 Điều 585): Trường hợp cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại đều có lỗi, người bị thiệt hại chỉ được bồi thường phần thiệt hại không phải do lỗi của mình.
- Lỗi trong việc xác định mức bồi thường: Mức độ lỗi của bên gây thiệt hại và hành vi có lỗi của bên bị thiệt hại là căn cứ trực tiếp để Tòa án xác định mức bồi thường thực tế.
- Lỗi trong việc xác định giảm mức bồi thường: Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 bổ sung trường hợp chủ thể "không có lỗi" bên cạnh trường hợp "có lỗi vô ý" được giảm mức bồi thường nếu thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài.
- Lỗi trong việc xác định trách nhiệm hoàn trả: Pháp nhân, Nhà nước hoặc người sử dụng lao động sau khi bồi thường cho bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu cá nhân có hành vi vi phạm hoàn trả một khoản tiền tương ứng với mức độ lỗi của họ (Điều 597, Điều 598, Điều 600).
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và một số kiến nghị hoàn thiện
Chương 3 đánh giá thực tiễn xét xử thông qua các bản án cụ thể, nhận diện bất cập và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
- Phân tích thực tiễn xét xử qua các bản án:
- Về căn cứ phát sinh trách nhiệm: Bản án số 263/2023/DS-PT ngày 27/07/2023 của TAND tỉnh Long An (vụ tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị P và bà Trần Thị Diễm H). Tòa án xác định bà H phải bồi thường tổn hại sức khỏe (15% thương tật) cho bà P do có hành vi không nhường đường gây tai nạn mà không cần phân tích hình thức lỗi cố ý hay vô ý, chứng minh nguyên tắc không cần chứng minh lỗi khi phát sinh trách nhiệm.
- Về căn cứ loại trừ trách nhiệm: Bản án số 204/2021/DS-PT ngày 30/09/2021 của TAND tỉnh Long An (vụ bà Lê Thị T yêu cầu anh Trần Phạm Ngọc Th, ông H và bà Tr liên đới bồi thường do xe mô tô va chạm với ông Trương Hoài S dẫn đến tử vong). Tòa án bác yêu cầu khởi kiện vì thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của ông S (nồng độ cồn vượt mức, đi sai làn đường), do đó người điều khiển xe mô tô được loại trừ trách nhiệm.
- Về xác định chủ thể chịu trách nhiệm: Bản án sơ thẩm số 01/2017/DSST ngày 16/05/2017 của TAND huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Trong giờ ra chơi tại Trường Tiểu học Hải An, cháu Lê Ngọc T ném thước gỗ trúng mắt cháu Vi Phương A gây tổn thương cơ thể 41% (mù mắt trái). Tòa án tuyên buộc Trường Tiểu học Hải An phải bồi thường vì không chứng minh được nhà trường không có lỗi trong công tác quản lý, giám sát học sinh trong giờ ra chơi.
- Một số bất cập chỉ ra từ thực tiễn:
- BLDS năm 2015 thiếu định nghĩa chuẩn xác về khái niệm lỗi dân sự và tiêu chí định lượng cụ thể cho lỗi cố ý/vô ý.
- Khái niệm "hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại" và tiêu chí "thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế" còn mang tính định tính, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng của các Thẩm phán.
- Việc phân định nghĩa vụ chứng minh "không có lỗi" giữa nhà trường/cơ sở giáo dục và cha mẹ học sinh trong thời gian quản lý còn gặp nhiều vướng mắc.
- Kiến nghị và giải pháp:
- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng BLDS năm 2015, làm rõ các tiêu chuẩn xác định mức độ lỗi, căn cứ loại trừ trách nhiệm và khung giảm mức bồi thường.
- Nâng cao nghiệp vụ xét xử, tăng cường công tác phát triển án lệ nhằm thống nhất nhận thức về đánh giá chứng cứ chứng minh lỗi trong các vụ việc BTTHNHĐ phức tạp.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và lịch sử lập pháp về yếu tố lỗi trong pháp luật dân sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến BLDS năm 2015, có đối chiếu với các hệ thống pháp luật tiêu biểu trên thế giới (Pháp, Đức, Anh - Mỹ).
- Phân tích chi tiết sự chuyển dịch bản chất của yếu tố lỗi trong BLDS năm 2015: từ vai trò "điều kiện phát sinh" sang vai trò "định lượng mức độ bồi thường, xác định chủ thể, loại trách nhiệm và căn cứ miễn giảm".
- Đánh giá thực tiễn áp dụng qua các vụ án thực tế (trích xuất dữ liệu từ các bản án số 263/2023/DS-PT, 204/2021/DS-PT, 01/2017/DSST).
- Đóng góp của khóa luận:
- Khóa luận không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó nhờ việc tiếp cận chuyên sâu và có hệ thống về vai trò đa chiều của yếu tố lỗi dưới lăng kính của BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP.
- Đưa ra hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn xét xử có tính ứng dụng, hỗ trợ việc tháo gỡ các xung đột pháp lý giữa các bên trong quan hệ bồi thường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định thực định của pháp luật Việt Nam và một số nhóm quan hệ BTTHNHĐ điển hình; nguồn số liệu bản án được thu thập có tính chọn lọc theo một số địa phương (Long An, Thanh Hóa) nên chưa phản ánh toàn diện bức tranh xét xử trên toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của yếu tố lỗi trong các dạng BTTHNHĐ phi truyền thống (như thiệt hại do trí tuệ nhân tạo, thiệt hại trong môi trường số, xâm phạm dữ liệu cá nhân) và xây dựng bộ tiêu chí lượng hóa mức độ lỗi chi tiết hơn trong án lệ dân sự.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần liên quan đến nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Thẩm phán, Hội thẩm, Luật sư và cán bộ tư pháp tham khảo khi đánh giá chứng cứ, xác định tư cách chủ thể và phân bổ mức bồi thường trong các vụ án tranh chấp BTTHNHĐ.
- Phần nội dung giá trị nhất: Toàn bộ Chương 2 (hệ thống hóa 7 khía cạnh pháp lý của yếu tố lỗi theo BLDS năm 2015) và các phân tích thực tiễn án văn tại Chương 3 (làm rõ nghĩa vụ chứng minh lỗi của nhà trường và căn cứ loại trừ trách nhiệm khi nạn nhân có lỗi hoàn toàn).
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLDS năm 2015, yếu tố lỗi có còn là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ hay không?
Không. Khác với Điều 604 BLDS năm 2005, Khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015 chỉ quy định 3 căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế. Người bị thiệt hại không còn nghĩa vụ phải chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại.
2. Người gây thiệt hại được miễn trừ toàn bộ trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp nào liên quan đến yếu tố lỗi?
Căn cứ Khoản 2 Điều 584 BLDS năm 2015, người gây thiệt hại được miễn trách nhiệm khi thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác). Đối với nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601), bên vận hành/chiếm hữu chỉ được miễn trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của bên bị thiệt hại.
3. Trách nhiệm bồi thường của nhà trường đối với thiệt hại do học sinh tiểu học gây ra được xác định dựa trên nguyên tắc nào?
Theo quy định tại Điều 599 BLDS năm 2015 và thực tiễn xét xử tại Bản án số 01/2017/DSST của TAND huyện Tĩnh Gia, nhà trường có trách nhiệm quản lý học sinh trong thời gian học tập và sinh hoạt tại trường (kể cả giờ ra chơi). Nếu học sinh dưới 15 tuổi gây thiệt hại cho người khác trong thời gian này, nhà trường phải chịu trách nhiệm bồi thường, trừ khi nhà trường chứng minh được mình không có lỗi trong công tác quản lý, giám sát.
4. Điều kiện để người chịu trách nhiệm bồi thường được giảm mức bồi thường theo Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 là gì?
Người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được xem xét giảm mức bồi thường khi đáp ứng đủ hai điều kiện: (1) Không có lỗi hoặc có lỗi vô ý; và (2) Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình (được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP).
5. Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại (Điều 587 BLDS năm 2015), nghĩa vụ bồi thường được phân chia như thế nào nếu không xác định được mức độ lỗi của từng người?
Theo Điều 587 BLDS năm 2015, các chủ thể cùng gây thiệt hại phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo các phần bằng nhau.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã phân tích một cách có hệ thống và chuyên sâu về vị trí, vai trò của yếu tố lỗi trong chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2015. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận lập pháp, phương pháp luật học so sánh và việc phân tích các bản án thực tiễn, công trình đã làm sáng tỏ tính chất hai mặt của yếu tố lỗi: vừa được loại bỏ khỏi điều kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường nhằm bảo vệ quyền lợi nạn nhân, vừa giữ vai trò trung tâm trong việc định lượng mức độ trách nhiệm và căn cứ miễn giảm. Các kiến nghị và đề xuất trong khóa luận mang giá trị thực tiễn rõ nét, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành luật và nâng cao chất lượng xét xử các tranh chấp dân sự tại Tòa án.